|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày 04-3-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh và ông Đường Ngọc Đại
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Bình Phương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Lưu Hoàng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2024/TLST HS ngày 31 tháng 12 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lê Duy H (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 09 tháng 5 năm 1978; Nơi sinh: xã C, huyện M, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; Đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Xuân T (đã chết) và bà Trần Thị C (đã chết); có vợ là Phạm Thị G và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 tháng 5 năm 2024 đến nay, “có mặt”.
2. Nguyễn Văn T1 (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 27 tháng 3 năm 1970; Nơi sinh: thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ C, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 11/12; Đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị X (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị L và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 tháng 5 năm 2024 đến nay, “có mặt”.
3. Trần Thị Bích P (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989; nơi sinh: Xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 05/12; Đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn T2 và bà Nguyễn Thị T3; không có chồng và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 tháng 5 năm 2024 đến nay, “có mặt”.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Nghiêm Văn S, sinh năm 1975; cư trú tại: Tổ D, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1999; cư trú tại: Xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, “vắng mặt”.
Anh Tướng Công T4, sinh năm 2008; cư trú tại: xã Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái, “vắng mặt”.
Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1978; cư trú tại: Tổ dân phố N, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.
NHẬN THẤY
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Duy H là chủ quán hát Karaoke L tại khu đô thị Đ, thuộc địa phận phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Khoảng 15 giờ 00 ngày 17 tháng 5 năm 2024, trong khi một mình dọn dẹp phòng kho ở tầng 6 của quán H phát hiện có một tờ giấy ăn màu trắng gói 06 viên nén màu xám (gồm 03 viên nguyên và 03 nửa viên) và 02 túi nilon bên trong có chứa các tinh thể màu trắng, H biết đó là ma túy loại Ketamin nên cất vào túi da cầm tay của mình mục đích để sử dụng.
Khoảng 00 giờ ngày 18 tháng 05 năm 2024, H một mình điều khiển xe ô tô màu đỏ, nhãn hiệu MAZDA, biển kiểm soát 88A-212.51 đi từ quán L1 đến phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc để ăn đêm. Tại quán ăn, H gặp người quen là Nguyễn Văn T1; Nghiêm Văn S đều trú tại phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc và Trần Thị Bích P trú tại xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang thì H, T1, S và P cùng ăn uống với nhau. Khoảng hơn 01 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi ăn xong thì H rủ và được T1 đồng ý cùng về quán K3 của H để hát, tâm sự. Sau đó, T1 bảo S điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 88A-114.37 của S chở T1 và P còn H một mình điều khiển xe ô tô của mình đi về quán. Sau khi về quán thì H, T1, S và P cùng nhau ngồi tại phòng khách tại tầng 1 của quán, thấy Trần Văn Đ và Tướng C là nhân viên của quán ở quầy lễ tân thì H bảo Đ lên mở phòng hát số 5 trên tầng 3 để H cùng bạn lên hát, thì Đ lại bảo T4 lên mở, khi T4 lên mở cửa phòng hát số 5 trên tầng ba xong đi xuống cầu thang thì gặp H, lúc này H bảo T4 vào phòng kho trên tầng lấy đồ (đĩa sứ, thẻ cứng, bình khò mini) đem xuống phòng hát số 5 cho H, T4 không biết những thứ đó để làm gì nhưng do H là chủ sai đi lấy thì T4 lấy đem vào phòng hát số 5 để lên mặt bàn cho H rồi đi xuống khu vực phòng khách tầng 1. Sau đó, H, T1, P và S cùng nhau đi vào phòng số 5. Tại đây, H lấy trong túi da cầm tay 02 túi nilon bên trong có chứa ma túy Ketamine để vào chiếc cốc thủy tinh trên bàn kính giữa phòng hát và lấy ra tờ giấy ăn gói 06 viên nén ma túy K1 mở ra để lên mặt bàn kính. Sau đó, H lấy một nửa viên ma túy Kẹo cho vào miệng nuốt và đưa cho T1 một nửa viên ma túy K1 thì T1 cầm lấy và cho vào miệng sử dụng, số ma túy K1 còn lại H vẫn để trên giấy ăn màu trắng trên mặt bàn kính cho P, S và T1 tiếp tục sử dụng. Sau đó, H bật nhạc trong phòng số 5 để T1, S và P hát và nghe nhạc rồi đi sang phòng hát số 4 cạnh đó giao lưu với khách đang hát. Lúc này, T1 lấy 01 viên ma túy Kẹo (viên nén còn nguyên) đưa cho P sử dụng, P hiểu ý nên bẻ viên nén ma túy Kẹo này làm đôi rồi đưa một nửa vào miệng nuốt, nửa còn lại P để vào tờ giấy ăn trên mặt bàn kính, S thấy có ma túy Kẹo trên bàn nên tự lấy một viên nén ma túy Kẹo (viên nén còn nguyên) cho vào miệng sử dụng. Sau khi đi giao lưu tại phòng số 4 khoảng 10 phút thì H quay lại phòng hát số 5 lấy từ chiếc cốc thủy tinh đang để trên mặt bàn kính một túi nilon bên trong chứa ma túy K2 đưa cho P và bảo P xào đảo ma túy K2 để sử dụng, P đồng ý và lấy khò mini khò vào đĩa sứ cho nóng rồi đổ ma túy Ke trong túi nilon ra đĩa sứ và vứt túi ni lon này xuống nền nhà rồi dùng thẻ cứng rằm, xào, đảo và chia ma túy K2 ra thành nhiều đường nhỏ. Sau khi xào, đảo và chia ma túy Ke xong, P bảo T1 đưa cho tờ tiền 10.000 đồng để cuốn ống hút sử dụng ma túy K2, T1 đồng ý và đưa cho P tờ tiền 10.000 đồng. Sau khi cuốn xong ống hút, P để ống hút vào đĩa sứ chứa ma túy K2 đã được xào, đảo sẵn rồi để đĩa sứ trên mặt bàn kính thì H, T1, P và S thay nhau dùng ống hút hít từng đường ma túy K2 đã được P chia sẵn trước đó. Đến khoảng 03 giờ 45 phút cùng ngày, H, T1, S và P đang trong quá trình sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an thành phố P kiểm tra, phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan gồm:
* Thu giữ trên mặt bàn kính tại phòng hát số 5:
- - Chất bột màu trắng trên đĩa sứ, được thu gom và được niêm phong, ký hiệu A1;
- - 01 đĩa sứ, màu trắng có bám dính chất bột màu trắng, 01 thẻ cứng màu đen, có ghi dòng chữ Bonus Card Casino, 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, hai đầu của ống hút có gắn 02 đầu lọc thuốc lá, toàn bộ số tang vật này được niêm phong theo quy định, ký hiệu A2;
- - 01 túi nilon màu trắng, viền xanh bên trong có chứa các cục dạng đá, màu trắng, được niêm phong theo quy định, ký hiệu A3;
- - 03 cục bột dạng viên nén màu xám được phát hiện trên tờ giấy ăn, được niêm phong theo quy định, ký hiệu A4
- - 01 bình khò mini nhãn hiệu Gason.
- Thu giữ dưới nền nhà: 01 túi nilon màu trắng, viền xanh bên trong có bám dính chất bột màu trắng, được niêm phong theo quy định, ký hiệu A5.
- Thu giữ của Lê Duy H: 01 xe ô tô màu đỏ, nhãn hiệu MAZDA, biển kiểm soát 88A - 212.51 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14, màu trắng.
- Thu giữ của Nghiêm Văn S: 01 xe ô tô màu bạc, nhãn hiệu HUYNDAI, biển kiểm soát 88A-114.37 và 01 một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh.
- Thu giữ của Nguyễn Văn T1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh.
- Thu giữ của Trần Thị Bích P 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh.
- Ngày 19 tháng 5 năm 2024, cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc của Lê Duy H: Thu giữ 01 Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 19H8 004110 mang tên Lê Duy H, trú tại phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, địa điểm kinh doanh: Khu đô thị Đ, thị xã P, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc); Ngành nghề kinh doanh: kinh doanh Karaoke do Phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 14 tháng 4 năm 2011 và 01 Giấy phép kinh doanh Karaoke số 56/GP-VHTT mang tên Lê Duy H, địa điểm kinh doanh: Khu đô thị Đ, thị xã P, tỉnh Vĩnh Phúc do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 03 tháng 10 năm 2016.
Ngoài ra, cơ quan điều tra còn thu giữ, niêm phong mẫu nước tiểu của Lê Duy H, Nguyễn Văn T1, Trần Thị Bích P, Nghiêm Văn S.
* Kết quả giám định:
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, Phòng K4 - Công an tỉnh V có Bản Kết luận giám định số 1412/KLGĐ, kết luận:
“Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,5432g. Mẫu trả sau giám định có khối lượng A1= 0,4977 gam.
Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ có trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất bám dính do tồn tại ở dạng vết.
Chất bột màu trắng bám dính bên trong ống hút có trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất bám dính do tồn tại ở dạng vết.
Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt thẻ cứng có trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất bám dính do tồn tại ở dạng vết.
Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,8870g. Mẫu trả sau giám định có khối lượngA3= 0,8330 gam.
03 (ba) mảnh viên nén của mẫu ký hiệu A4 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có tổng khối lượng 0,7223g. Mẫu trả sau giám định có khối lượng A4= 0,6097 gam.
Chất bột màu trắng bám dính bên trong túi nilon của mẫu ký hiệu A5 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất bám dính do tồn tại ở dạng vết”.
Cơ quan giám định hoàn lại A1=0,4977g; A2 gồm 01 đĩa sứ, 01 thẻ cứng, 01 ống hút, A3=0,8330g; A4=0,6097g; A5: 01 túi nilon mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong chung trong một bao giấy “MẪU TRẢ 1328”.
Ngày 25 tháng 5 năm 2024, Phòng K4 - Công an tỉnh V đã ra các Bản kết luận giám định số 1459, 1455, 1452 và 1450/KLGĐ đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Lê Duy H, Nguyễn Văn T1, Trần Thị Bích P và Nghiêm Văn S, kết luận:
- Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Lê Duy H, SN: 1978, HKTT tại phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc gửi đến giám định.
- Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn T1, SN: 1970, HKTT tại phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc gửi đến giám định.
- Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Trần Thị Bích P, SN: 1989, HKTT tại xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang gửi đến giám định.
- Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Nghiêm Văn S, SN: 1975, HKTT tại phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc gửi đến giám định.
Cơ quan giám định hoàn lại: Không
Quá trình điều tra xác định: Trong quá trình hoạt động kinh doanh quán L1 có vi phạm, không đảm bảo các điều kiện của hoạt kinh doanh có điều kiện nên ngày 11 tháng 10 năm 2022, Công an thành phố P đã ra Quyết định đình chỉ hoạt động đối với quán K3. Tuy nhiên, Lê Duy H không chấp hành mà vẫn tiếp tục tiến hành hoạt động kinh doanh hát karaoke và để xảy ra vi phạm pháp luật nên cơ quan điều tra có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố P và Phòng tài chính Kế hoạch Ủy ban nhân dân thành phố P ra Quyết định thu hồi đối với Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh và Giấy phép kinh doanh karaoke nêu trên.
Đối với số ma túy bị thu giữ gồm: 0,7223 gam MDMA và 1,4302 gam Ketamine ở trên bàn, không có ai cất giấu, tàng trữ. Số ma túy này vẫn được Lê Duy H, Nguyễn Văn T1, Nghiêm Văn S và Trần Thị Bích P tiếp tục sử dụng cho đến hết nên không phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đối với nguồn gốc số ma túy nêu trên, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác minh được nguồn gốc số ma túy của ai, khi nào làm rõ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSPY ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên phát biểu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về các tội danh như đã nêu ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử,
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Duy H từ 08 năm đến 08 năm 03 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị Bích P từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên của Cơ quan điều tra – Công an thành phố P, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, lấy lời khai của bị can và những người tham gia tố tụng, kết luận điều tra, ban hành cáo trạng. Thời hạn điều tra, truy tố đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Xét thấy tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, cụ thể: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 18 tháng 5 năm 2024, tại phòng hát số 5 tầng 3 quán L1 thuộc khu đô thị Đ, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc do Lê Duy H là chủ quán quản lý và kinh doanh, H cùng với Nguyễn Văn T1 và Trần Thị Bích P có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho Nghiêm Văn S.
[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai những người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác. Phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc, kết luận giám định,... Do đó có đủ cơ sở để kết luận Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố truy tố các bị cáo Lê Duy H, Nguyễn Văn T1, Trần Thị Bích P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai.
Điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm...
b) Đối với 02 người trở lên”
[4] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đều còn trong độ tuổi lao động nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, ăn chơi đua đòi đã có hành vi tổ chức cho mình và nhiều người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đối với bị cáo Lê Duy H là người giữ vai trò khởi xướng, rủ rê đồng thời chuẩn bị công cụ, phương tiện cùng các bị cáo T1, P và anh Nghiêm Văn S sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm do mình quản lý. Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn có bố là ông Lê Xuân T và mẹ là bà Trần Thị C được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không. Xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo như đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành một công dân có ích cho gia đình, xã hội.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T1 là người giữ vai trò đồng phạm giúp sức tích cực, trực tiếp tham gia sử dụng trái phép chất ma túy cùng với P và S. Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn có bố là ông Nguyễn Văn K và mẹ là bà Nguyễn Thị X được nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương kháng chiến nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không. Xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo như đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành một công dân có ích cho gia đình, xã hội.
Đối với bị cáo Trần Thị Bích P là người giữ vai trò đồng phạm giúp sức tích cực, trực tiếp tham gia sử dụng trái phép chất ma túy cùng với T1 và S. Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không. Xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo như đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành một công dân có ích cho gia đình, xã hội.
[6] Đối với Nghiêm Văn S không giúp sức gì, chỉ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với H, T1, P. Hành vi của S không cấu thành tội phạm nên Công an thành phố P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với S về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Đối với Trần Văn Đ và Tướng Công T4 là nhân viên làm thuê của quán K3. Quá trình điều tra xác định, sau khi H cùng T1, P và S vào phòng hát thì Đ đi về nhà nghỉ T5 để trông coi nhà nghỉ đến 4 giờ sáng ngày 18 tháng 5 năm 2024 đi sang quán hát thì thấy có công an đang làm việc. Còn T4 thì H mới thuê đến quán hát làm ngày 12 tháng 5 năm 2024, bản thân T4 và Đ không biết việc Lê Duy H tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 5 tầng 3 quán Lasvergas nên không đề cập xử lý là phù hợp.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về vật chứng của vụ án:
- - Đối với mẫu trả: A1= 0,4977gam; A2 gồm 01 đĩa sứ, 01 thẻ cứng; A3= 0,8330 gam; A4= 0,6097 gam; A5 gồm 01 túi nilon mẫu và toàn bộ bao gói cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 tờ tiền 10.000 đồng là tiền của Nguyễn Văn T1 dùng cuốn ống hút để sử dụng trái phép chất ma túy, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - Đối với 01 bình khò mini nhãn hiệu Gason, là công cụ phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu MAZDA màu đỏ, biển kiểm soát 88A-212.51 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn H1 sinh năm 1978, trú tại thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, anh H1 cho Lê Duy H mượn chiếc xe này làm phương tiện đi lại, sinh hoạt, anh H1 không biết, không liên quan gì đến hành vi phạm tội của Lê Duy H, nên cơ quan điều tra đã trả lại anh H1 chiếc xe là phù hợp.
- - Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI màu bạc, biển kiểm soát 88A-114.37 là tài sản của Công ty cổ phần V chi nhánh V1. Ngày 02 tháng 01 năm 2024, Công ty V ký hợp đồng lao động, giao chiếc xe ô tô trên cho Nghiêm Văn S để làm phương tiện kinh doanh vận tải. Công ty V không biết, không liên quan gì đến hành vi vi phạm pháp luật của Nghiêm Văn S, nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho Công ty CP V là phù hợp.
- - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme thu của anh Nghiêm Văn S, không liên quan gì về hành vi vi phạm pháp luật nên cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nghiêm Văn S là phù hợp.
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 của Lê Duy H, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 của Nguyễn Văn T1 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax của Trần Thị Bích P là tài sản hợp pháp, không sử dụng để vi phạm pháp luật. Do đó, cần trả lại cho các bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 19H8 004110 và 01 Giấy phép kinh doanh Karaoke số 56/GP-VHTT thu giữ trong quá trình khám xét, cơ quan điểu tra đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố P thu hồi theo quy định của pháp luật là phù hợp.
[9] Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Duy H, Nguyễn Văn T1, Trần Thị Bích P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Duy H, Nguyễn Văn T1, Trần Thị Bích P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Duy H 08 (T3) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 18 tháng 5 năm 2024.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 07 (Bảy) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 18 tháng 5 năm 2024.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị Bích P 07 (Bảy) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 18 tháng 5 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy mẫu trả: A1= 0,4977gam; A2 gồm 01 đĩa sứ, 01 thẻ cứng; A3= 0,8330 gam; A4= 0,6097 gam; A5 gồm 01 túi nilon mẫu và toàn bộ bao gói niêm phong trong bao giấy “Mẫu trả 1328”.
- - Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Văn T1 là phương tiện phạm tội.
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) bình khò mini nhãn hiệu Gason, là phương tiện phạm tội.
- - Trả lại cho bị cáo Lê Duy H 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14; cho bị cáo Nguyễn Văn T1 (Một) 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 và cho bị cáo Trần Thị Bích P 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tất cả vật chứng và số tiền nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 27 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 20 tháng 01 năm 2025.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Lê Duy H, Nguyễn Văn T1, Trần Thị Bích P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Anh Vũ |
| Các hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
| Lê Hồng Khiên Đoàn Thị Vệ | Lê Anh Vũ |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Le Duy H va DP tổ chức sử dụng TPCMT
