|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HS-PT Ngày: 23 - 01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Hà.
Các Thẩm phán: ông Đỗ Văn Đại và ông Cao Việt Hoàng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Anh – Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Thân Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm - trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần - Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 170/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2024/HS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
* Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1977; nơi ĐKHKTT: thôn G, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Ngô Thị X; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: chưa có; con: có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Bản án số 06/HS-ST ngày 22/8/1997 của Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt bị cáo T 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh B, có mặt tại điểm cầu thành phần.
* Những người tham gia tố tụng khác:
- - Ông Nguyễn Hữu B – Cán bộ tin học Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại điểm cầu trung tâm.
- - Cán bộ tin học trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại điểm cầu thành phần.
Trong vụ án còn có 07 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị T1, sinh năm 1971 trú tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh là chủ quán Tú A. Đầu tháng 12/2023, T1 thuê Nguyễn Văn T làm quản lý của quán với mức lương 6.000.000đ/tháng. Theo lời khai của T: T1 giao nhiệm vụ cho T là quản lý quán. Tại quán có nhân viên nữ bán dâm cho khách có nhu cầu. Cụ thể: Khi T đến làm việc tại quán đã có hai nhân viên nữ là Quàng Thị P ở phòng 303, Hà Thị Kiều A1 ở phòng 301. Sau đó, T có nhận thêm 03 nhân viên nữ là Nguyễn Thị H (Trình bố trí ở phòng 203), Hoàng Thị M1 (Trình bố trí ở phòng 302) và Hoàng Thị H1, sinh năm 1992 trú ở bản L, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái (Trình bố trí ở phòng 304). Khi khách đến quán có nhu cầu mua dâm thì T sẽ thu của khách tiền phòng là 150.000đ/người/lần. Sau đó, T sẽ dẫn khách lên phòng để nhân viên của quán bán dâm cho khách. Nhân viên sẽ được hưởng toàn bộ tiền mua dâm mà khách trả. Hàng ngày, nhân viên sẽ phải nộp cho T 100.000đ tiền ăn ở, sinh hoạt. Ngoài ra, nếu khách có nhu cầu mua dâm qua đêm thì tùy thời điểm T sẽ thu của khách 1.000.000đ/người (nhân viên được hưởng 600.000đ) nếu khách đến sau 01 giờ hoặc 1.300.000đ/người (nhân viên được hưởng 700.000đ) nếu khách đến trước 01 giờ. Khi có khách đến mua dâm, T sẽ ghi tên nhân viên bán dâm, số phòng, thời gian bắt đầu khách đến, số tiền phòng đã thu vào một quyển sổ bìa màu xanh tại quầy lễ tân để theo dõi. Sau đó, T sẽ tổng kết và đưa tiền cho bà T1 vào ngày hôm sau.
Với phương thức hoạt động như vậy, khoảng 20 giờ 50 phút ngày 25/01/2024, Nguyễn Ngọc B1 đến quán T4 để mua dâm. Đến nơi, B1 gặp T cùng Hà Thị Kiều A1 và Nguyễn Thị H đang ngồi ở quầy lễ tân. B1 nói với T “cho một vé tẩm quất thư giãn”. Trình hiểu B1 đến mua dâm nên nói “Một trăm năm mươi nghìn đồng tiền vé”, B1 đưa cho T số tiền 150.000đ. T cầm tiền và bảo Kiều A1 đưa B1 lên phòng để mua bán dâm. Kiều A1 và B1 thống nhất giá mua bán dâm là 300.000đ. Sau đó, B1 và Kiều A1 thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Quan hệ xong, do không có tiền mặt nên B1 bảo chuyển khoản cho Kiều A1. Thấy vậy, Kiều A1 sử dụng chiếc điện thoại OPPO A11, màu trắng của Kiều A1 để cho B1 quét mã QR tài khoản ngân hàng và chuyển khoản cho Kiều A1. Sau đó, B1 đã sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11, màu đen, lắp sim số 0979.444.565 của B1 và chuyển khoản số tiền 400.000₫ từ tài khoản số 5150551874 mở tại Ngân hàng TMCP Đ đến tài khoản số 0969443123 mở tại Ngân hàng TMCP Q của Kiều A1 và nói “Anh bo cho em một trăm”. Sau đó, Kiều A1 thu dọn vỏ bao cao su và chiếc bao cao su vừa sử dụng rồi vứt vào bồn cầu và xả nước nên Cơ quan điều tra không thu hồi. Khi B1 đi ra cửa thì lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi B1 đến quán T4 khoảng 10 phút thì Nguyễn Văn T2 cùng Nguyễn Văn D và Vũ Văn D1 đến quán T4 để mua dâm. Khi đến nơi, gặp T cùng H đang ở quầy lễ tân thì D1 nói: “Cho em ba vé tàu nhanh”. Trình hiểu D1 đặt vấn đề mua dâm nhân viên của quán nên đồng ý. D1 hỏi giá vé phòng thì T nói “Một trăm năm mươi nghìn đồng một vé”. D1 đưa cho T số tiền 450.000đ. T cầm tiền và dẫn D1 cùng D, T2 lên tầng. Đồng thời, T bảo H lên phòng bán dâm cho khách. Sau đó, T đưa T2 vào phòng 203 để mua bán dâm với H, đưa D vào phòng 302 để mua bán dâm với Hoàng Thị M1 và đưa D1 vào phòng 303 để mua bán dâm với Quàng Thị P. Sau khi vào phòng, T2 thỏa thuận và trả cho H tiền mua bán dâm là 400.000đ, D thỏa thuận và trả cho M1 tiền mua bán dâm là 400.000đ, D1 thỏa thuận và trả cho P tiền mua bán dâm là 400.000₫.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi T2 và H, D và M1, D1 và P đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì Tổ công tác Công an thành phố T đến kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ vật chứng:
- + Tại phòng 203: Thu giữ của H số tiền 400.000₫ (H khai nhận đây là tiền mua dâm T2 trả cho H tại phòng 203); 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu WaterLotus và 01 bao cao su đã qua sử dụng;
- + Tại phòng 302: Thu giữ của M1 số tiền 400.000₫ (M1 khai nhận đây là tiền mua dâm D trả cho M1 tại phòng 302); 02 bao cao su nhãn hiệu WaterLotus chưa qua sử dụng;
- + Tại phòng 303: Thu giữ của P số tiền 400.000₫ (P khai nhận đây là tiền mua dâm D1 trả cho P tại phòng 303); 02 vỏ bao cao su và 02 bao cao su đã qua sử dụng.
Ngày 26/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp cơ sở kinh doanh quán “Tẩm quất thư giãn Tú A”. Kết quả khám xét:
- - Thu giữ 01 quyển sổ bìa màu xanh, trên bìa có dòng chữ “Viva NOTEBOOK I B5”, kích thước (17,5x25)cm, gáy xoắn tại quầy lễ tân;
- - 01 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá thể số 21E80012763 mang tên Trần Thị Hồng H2 (bản sao) tại quầy lễ tân.
Quá trình điều tra, qua kiểm tra sổ ghi chép, lời khai của các nhân viên nữ đã xác định trong các ngày 08/12/2023, 17/01/2024, 21/01/2024 và 25/01/2024, Nguyễn Văn T đã chứa 42 lượt khách đến mua bán dâm tại quán T4, thu tổng số tiền cho thuê phòng là 8.600.000đ. Cụ thể làm rõ được:
- - Nguyễn Thị H đã bán dâm 4 lần, được khách trả tổng cộng 1.300.000₫ (trong đó có 400.000đ được T2 trả vào tối ngày 25/01/2024). H chưa giao nộp số tiền 900.000₫.
- - Hoàng Thị M1 đã bán dâm 13 lần, được khách trả tổng cộng 5.400.000₫ (trong đó có 400.000₫ được D trả vào tối ngày 25/01/2024). May chưa giao nộp số tiền 5.000.000₫.
- - Quàng Thị P đã bán dâm 13 lần, được khách trả tổng cộng 4.700.000₫ (trong đó có 400.000₫ được D1 trả vào tối ngày 25/01/2024). Phung chưa giao nộp lại số tiền 4.300.000₫.
- - Hà Thị Kiều A1 đã bán dâm 03 lần, được khách trả tổng cộng 1.000.000₫ (trong đó có 400.000₫ được B1 trả vào tối ngày 25/01/2024). Kiều A1 chưa giao nộp số tiền trên.
- - Hoàng Thị H1 đã bán dâm 05 lần, được khách trả tổng cộng 1.900.000đ. H1 chưa giao nộp số tiền trên.
Ngoài ra, còn có nhân viên tên “H3” bán dâm 01 lượt, nhân viên tên “T3” bán dâm 01 lượt vào ngày 08/12/2023; “Ngọc” bán dâm 02 lượt vào ngày 20/01/2024.
Trong ngày 08/12/2023 bị cáo T khai nhận chỉ cho nhân viên H3 và T3 mỗi người bán dâm 01 lượt và thu tiền phòng tổng là 300.000 đồng. Các lần khác trong ngày này là do bà T1 nhận khách, xắp xếp phòng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã triệu tập bà Trần Thị T1 đến làm việc. Tuy nhiên, bà T1 chỉ thừa nhận việc thuê T làm quản lý quán Tú A với nhiệm vụ thu tiền, sắp xếp khách đến tẩm quất, mát xa tại quán. Bà T1 không biết, không chỉ đạo và không đồng ý hoạt động mua bán dâm tại quán T4. Sau đó, bà T1 không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra không tiến hành đối chất được giữa bà T1 với bị cáo T.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2024/HS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Chứa mại dâm”.
Áp dụng điểm c, d khoản 2, 5 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2024.
Phạt bổ sung bị cáo T 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/11/2024, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời thừa nhận bản án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Chứa mại dâm” là đúng người, đúng tội, không oan nhưng hình phạt 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù đối với bị cáo là quá nặng. Bị cáo chỉ làm thuê cho bà T1, nhận lương 6 triệu đồng/tháng, ngoài ra không được hưởng lợi gì từ việc mua bán dâm. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên mong Hội đồng xét xử (HĐXX) giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã khẳng định quá trình điều tra, truy tố, xét xử ở giai đoạn sơ thẩm là đúng người, đúng tội, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp. Do đó đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về tội “Chứa mại dâm”.
Bị cáo T không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhưng vẫn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo do vậy kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người liên quan, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Nguyễn Văn T là quản lý của cơ sở kinh doanh “Tẩm quất thư giãn Tú A” ở khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh do bà Trần Thị T1 làm chủ. Quá trình hoạt động, T cho nhân viên nữ bán dâm tại cơ sở “Tẩm quất thư giãn Tú A” để thu tiền phòng.
Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 25/01/2024, tại cơ sở quán “tẩm quất thư giãn Tú A”, Nguyễn Văn T đã cho nhân viên nữ của quán là chị Kiều A1 bán dâm cho anh B1 để thu 150.000đ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì T tiếp tục cho 03 nhân viên nữ của quán là Nguyễn Thị H, Hoàng Thị M1, Quàng Thị P bán dâm cho 3 khách mua dâm, thu tổng số tiền 450.000 đồng thì bị bắt quả tang.
Ngoài ra, quá trình điều tra xác định trong tháng 12/2023 và tháng 01/2024, ngoài 04 lượt mua bán dâm bị bắt quả tang ngày 25/01/2024 thì trước đó Nguyễn Văn T đã cho các nhân viên nữ bán dâm cho khách 38 lượt tại cơ sở quán “Tẩm quất thư giãn Tú A” với tổng số tiền thu lời bất chính là 8.600.000đ.
Vì vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Chứa mại dâm” theo điểm c, d khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự. Do đó, án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, là nguyên nhân chính phát sinh tệ nạn và tội phạm, đặc biệt còn dẫn tới sự lây lan bệnh HIV, gây nhiều bất ổn cho xã hội, do vậy phải xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và phạt bị cáo 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp, không nặng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Vì vậy HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm c, d khoản 2, 5 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”, Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/01/2024.
Phạt bổ sung bị cáo T 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo T 45 ngày kể từ ngày tuyên án (23/01/2025) để đảm bảo thi hành án.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Vương Thị Hà |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Số: /2025/HSPT-QĐTG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bắc Ninh, ngày 23 tháng 01 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị H4.
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Quang H5 và ông Cao Việt H6.
Căn cứ vào các điều 109, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Hội đồng xét xử phúc thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1.
Tạm giam bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1977; nơi ĐKHKTT: thôn G, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
Bị Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa mại dâm” theo điểm c, d khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự.
Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Điều 2.
Trại tạm giam Công an tỉnh B có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Vương Thị Hà |
Bản án số 06/2025/HS-PT ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự về tội "chứa mại dâm"
- Số bản án: 06/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Chứa mại dâm"
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chứa mại dâm