TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG Bản án số: 06/2025/HS-PT-CTN Ngày 15 tháng 4 năm 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm.
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Ngọc Thúy và ông Lâm Thuận Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Trương Khang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLPT-HSCTN ngày 13 tháng 3 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXPT-HS-CTN ngày 01 tháng 4 năm 2025, đối với các bị cáo: Trần Bảo T, Quách Anh D, Nguyễn Minh K; do có kháng cáo của các bị cáo Trần Bảo T, Quách Anh D, Nguyễn Minh K và người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Minh K, Quách Anh D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Trần Bảo T, sinh ngày 10/02/2002, tại C - An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 13, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công B và bà Nguyễn Thị S; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Quách Anh D, sinh ngày 25/3/2007, tại C - An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 8, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Văn T1 và bà Lầu Thị Bích H; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Quách Anh D: Ông Trần Phước T2, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt);
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Quách Anh D: Bà Lầu Thị Bích H, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ H, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).
3. Nguyễn Minh K (Đức H1), sinh ngày 25/5/2006, tại A - An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh N và bà Nguyễn Thị Lệ T3; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 05/11/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” trong vụ án khác. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh K: Ông Hà Quang V - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt);
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Minh K: Bà Nguyễn Thị Lệ T3, sinh năm 1984; nơi cư trú: Khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt).
Trong vụ án còn có các bị cáo: Trịnh Hữu P, Kiều Tấn L, Lưu Minh M, Nguyễn Quốc T4, Đường T, Nguyễn Anh P1, Thái P, Moha Mách T, Trần Hoàng P2 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn giữa Vũ Lê T5 với Trịnh Hữu P, Kiều Tấn L nên khoảng 23 giờ ngày 12/11/2023, T5 điện thoại cho P hẹn đánh nhau lúc 00 giờ 30 phút ngày 13/11/2023 tại khu vực Trường trung học cơ sở N2 thuộc tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, thì P đồng ý.
Vũ Lê T5 rủ Nguyễn Thành T6, Nguyễn Văn T7, Văng Văn N1, Đoàn Thế D1, Quách Anh D, Nguyễn Minh K, Nguyễn Quốc T4, Trần Anh P3, Nguyễn Minh T8 và Phan Trương Minh M1 chuẩn bị hung khí gồm dao tự chế và nhiều vỏ chai thủy tinh để làm bom xăng đứng ở đầu hẻm C Nguyễn Đình C để chờ đánh nhau với nhóm của P.
Đối với Trịnh Hữu P, sau khi nhận lời đánh nhau của T5, P rủ Kiều Tấn L, Lưu Minh M, Thái P, Kha P, Trần Bảo T, Đường T, Moha Mách T và Trần Hoàng P2. Trần Hoàng P2 rủ thêm Nguyễn Anh P1 cùng tham gia đánh nhau. Nhóm, chuẩn bị 05 xe mô tô, 02 cây súng bắn đạn nở, 04 cây dao tự chế, 03 cây chỉa ba, 02 cây dao phóng lợn tập trung tại quán “H” thuộc khu vực khóm C, phường C, thành phố C.
Đến khoảng 00 giờ 40 phút ngày 13/11/2023, cả nhóm đi đến điểm hẹn. Khi thấy nhóm P đi đến nên T5 châm lửa bom xăng và ném vỏ chai thủy tinh về hướng nhóm P làm mảnh vỡ thủy tinh văng nhiều nơi và lửa cháy trên mặt đường. Nhóm của P sử dụng hung khí tấn công và rượt đuổi nhóm T5. Nhóm T5 bỏ chạy vào trong hẻm. Nhóm của P không đuổi theo mà đứng bên ngoài hẻm chửi và thách thức kêu nhóm T5 ra ngoài đánh nhau. Trong lúc hai nhóm ném bom xăng, ném gạch, đá và bắn đạn... thì được quần chúng nhân dân gọi điện đến Công an phường C. Công an phường C đến và mời tất cả về làm việc.
Tang vật thu giữ gồm: 18 vỏ chai thuỷ tỉnh (trong đó 14 chai có chứa ít chất lỏng); 07 cây dao tự chế các loại; 01 thanh kim loại, dài 202 cm đường kính 2,5 cm, phần đầu hàn dính 03 thanh kim loại tròn, màu trắng mũi nhọn, thanh giữa dài 36 cm, hai thanh bìa dài 35 cm; 01 thanh kim loại, tròn, dài 208 cm, đường kính 02 cm; 01 súng nhựa màu đen, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius biển số 84F1-014.06; 02 DVD chứa file video ghi lại diễn biến vụ án;
Tại Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Bảo T 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị báo bị bắt chấp hành án.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 12, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh K 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị báo bị bắt chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Quách Anh D 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị báo bị bắt chấp hành án.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo khác gồm:
- Lưu Minh M 03 năm năm tù; Trịnh Hữu P 03 năm tù; Nguyễn Anh P1 02 năm 09 tháng tù; Kiều Tấn L 02 năm 03 tháng tù; Moha Mách T 02 năm 03 tháng tù; Trần Hoàng P2 02 năm 03 tháng tù; Thái P 02 năm 03 tháng tù; Nguyễn Quốc T4 01 năm 03 tháng tù; Đường T 01 năm 03 tháng tù cùng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Ngày 07/02/2025, bị cáo Trần Bảo T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo không giam giữ.
- Ngày 18/02/2025, bị cáo Nguyễn Minh K và đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Thị Lệ T3 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
- Ngày 12/02/2025, bị cáo Quách Anh D và đại diện hợp pháp là bà Lầu Thị Bích H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
- Các bị cáo Trần Bảo T, Quách Anh D, Nguyễn Minh K và người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Minh K, Quách Anh D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;
- Người bào chữa cho bị cáo Quách Anh D – Ông Trần Phước T2 trình bày quan điểm: Thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quách Anh D về việc cho bị cáo được hưởng án treo.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh K- Ông Hà Quang V trình bày quan điểm: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh về tội danh. Mặc dù bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết mới nhưng khi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên nên cần xem xét áp dụng chính sách đối với người chưa thành niên phạm tội theo tinh thần Luật Tư pháp Người chưa thành niên. Bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự; ngoài việc bị kết án trong vụ án này, bị cáo còn bị khởi tố, xét xử trong vụ án khác, với cùng tội danh, nên gây bất lợi cho bị cáo. Đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo K được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:
+ Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
+ Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Bảo T; giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt, xử phạt bị cáo T: 02 năm 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh K và đại diện hợp pháp của bị cáo K; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quách Anh D và đại diện hợp pháp của bị cáo D; sửa bản án sơ thẩm về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh K 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Quách Anh D 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”; buộc bị cáo chấp hành thời gian thử thách là 02 năm; giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: các bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về Nội dung:
Lời khai của các bị cáo Trần Bảo T, Quách Anh D, Nguyễn Minh K tại phiên tòa phúc thẩm thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm, phù hợp với kết quả điều tra thể hiện qua lời khai của các bị cáo khác trong vụ án tại cấp sơ thẩm, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết quả giám định, khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, có đủ căn cứ xác định: vào khoảng 00 giờ sáng ngày 13/11/2023, tại khu vực Trường trung học cơ sở N2 thuộc tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, bị cáo Bảo T tham gia cùng nhóm: Trịnh Hữu P, Kiều Tấn L, Lưu Minh M, Thái P, Kha P, Đường T, Moha Mách T và Trần Hoàng P2, Nguyễn Anh P1, sử dụng: 02 cây súng bắn đạn nở, 04 cây dao tự chế, 03 cây chỉa ba, 02 cây dao phóng lợn đánh nhau với nhóm của Vũ Lê T5;
Các bị cáo Quách Anh D, Nguyễn Minh K tham gia cùng nhóm của Vũ Lê T5, Nguyễn Thành T6, Nguyễn Văn T7, Văng Văn N1, Đoàn Thế D1, Nguyễn Quốc T4, Trần Anh P3, Nguyễn Minh T8 và Phan Trương Minh M1 sử dụng hung khí gồm dao tự chế và nhiều vỏ chai thủy tinh chế tạo bom xăng để đánh nhau.
Các bị cáo K, D1 đã cùng nhóm Vũ Lê Thanh T5 thực hiện hành vi dùng chai thủy tinh làm bom xăng châm lửa ném, dùng vỏ chai thủy tinh ném vào nhóm Trịnh Hữu P, làm mảnh vỡ thủy tinh văng nhiều nơi và lửa cháy trên mặt đường; bị cáo T cùng nhóm của P sử dụng hung khí tấn công và rượt đuổi nhóm Vũ Lê T5 gây náo loạn tại khu vực khu vực Trường trung học cơ sở N2 vào lúc đêm khuya. Hành vi của các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại khu vực nơi công cộng; các bị cáo trong vụ án đã sử dụng hung khí nguy hiểm là súng bắn đạn nở, cây chĩa, dao tự chế, dao phóng lợn, chai thủy tinh chế tạo thành bom xăng đánh nhau, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo theo tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ.
[4] Xét kháng cáo của các bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, thấy rằng:
[4.1] Đối với bị cáo Trần Bảo T: khi phạm tội đã đủ tuổi trưởng thành, bị cáo tham gia với vai trò tích cực sử dụng dao tự chế để rượt đuổi đánh nhau với nhóm của T5. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét vai trò, nhân thân, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, xử phạt bị cáo 02 năm 03 tháng tù là trong khung hình phạt (từ 2 năm đến 7 năm tù).
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo không giam giữ nhưng chỉ trình bày thêm hoàn cảnh gia đình có cha đang bị bệnh nặng, đây là tình tiết giảm nhẹ theo khỏan 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng. Việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo T.
[4.2] Đối với bị cáo Quách Anh D, tham gia thực hiện với vai trò tích cực cùng với T4 mua xăng, lượm vỏ chai thủy tinh chế tạo bom xăng và trực tiếp cầm dao phóng lợn, ném chai thủy tinh vào nhóm P. Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi và có tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51, khỏan 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng quy định đối với người chưa thành niên phạm tội, xét xử 01 năm tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, đây là tình tiết đã được cấp sơ thẩm xem xét áp dụng. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tỏ thái độ thật sự ăn năn, hối cải không tiếp tục vi phạm nên không cần thiết cách ly bị cáo với xã hội. Xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và quan điểm của người bào chữa, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.
[4.3] Đối với bị cáo Nguyễn Minh K, tham gia vụ án với vai trò tích cực, trực tiếp ném chai thủy tinh đã được chế tạo thành bom xăng vào nhóm của P. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, khi phạm tội là người chưa thành niên, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn nhận thức pháp luật hạn chế, tuyên phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo nhưng cũng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới. Bị cáo có nhân thân xấu, ngoài thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, bị cáo còn tham gia thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, đã bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử theo bản án số 13/2025/HSST ngày 06/02/2025, mức hình phạt 1 năm 3 tháng tù, bị cáo đang kháng cáo bản án. Xét bị cáo chưa có ý thức chấp hành tốt pháp luật, chưa thực sự ăn năn, hối cải nên việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết, do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo và quan điểm của người bào chữa về việc cho bị cáo được hưởng án treo. Tuy nhiên, xét bị cáo nhiều lần thực hành vi phạm tội với cùng tội danh và bị xét xử ở hai vụ án khác nhau là có phần bất lợi cho bị cáo. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và quan điểm của người bào chữa, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Bảo T, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quách Anh D và một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh K, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo D và K là có căn cứ nên được chấp nhận.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm, do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo D và K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáoTrần B.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quách Anh D, đại diện hợp pháp của bị cáo Quách Anh D; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh K, đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Minh K;
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HSST ngày 07/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Tuyên bố các bị cáo Trần Bảo T, Quách Anh D và Nguyễn Minh K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Bảo T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều38, Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh K (Đ) 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65; Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Quách Anh D 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án (15/4/2025).
Giao bị cáo Quách Anh D cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục;
Nếu trong thời gian thử thách người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải làm đơn có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường nơi được giao giám sát, giáo dục, gửi cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trần Bảo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo Quách Anh D, Nguyễn Minh K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Tâm |
Bản án số 06/2025/HS-PT-CTN ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự - gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 06/2025/HS-PT-CTN
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
