Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 28/11/2025.

Về tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Ngọc Hùng
  2. Bà Lò Thị Quỳnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Long Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án khu vực 1 - Sơn La tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 24/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lò Thị H, sinh năm 2002, địa chỉ: Bản N, xã M, tỉnh Sơn La. Có đơn đề nghị xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lò Văn T, sinh năm: 1996, địa chỉ: Bản N, xã M, tỉnh Sơn La. Có đơn đề nghị xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong các tài liệu trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Lò Thị H trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị H và anh Lò Văn T đã đăng ký kết hôn ngày 20/01/2021 tại UBND xã P, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là UBND xã M), tỉnh Sơn La. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do không có tiếng nói chung, không hòa hợp về quan điểm sống. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 01 con chung là Lò Như Q, sinh ngày 22/01/2021, chị H đề nghị anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Q. Chị H sẽ cấp dưỡng hàng tháng 1.500.000đ để nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Trong các tài liệu trong hồ sơ vụ án bị đơn anh Lò Văn T trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lò Văn T và chị Lò Thị H đã đăng ký kết hôn ngày 20/01/2021 tại UBND xã P, huyện M (nay là UBND xã M), tỉnh Sơn La. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống không có mâu thuẫn do vợ tôi tự ý bỏ đi làm thuê không quan tâm đến chồng con, tôi không nhất trí ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung là Lò Như Q, sinh năm 2021 hiện nay đang ở cùng bố. Nếu ly hôn tôi đề nghị được trực tiếp nuôi con và yêu cầu hàng tháng chị H phải cấp dưỡng nuôi con 1.500.000đ/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Kết quả tiến hành xác minh tại UBND xã M, tỉnh Sơn La kết quả: Chính quyền địa phương không biết về mẫu thuẫn gia đình của anh T và chị H. Hiện tại 02 anh, chị không còn chung sống với nhau do chị H đi làm thuê xa nhà, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đều đảm bảo đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về việc giải quyết vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Về việc giải quyết vụ đại diện Viện kiểm sát đề nghị: căn cứ Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị H. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lò Thị H, xử cho chị Lò Thị H ly hôn với anh Lò Văn T. Về con chung: Anh Lò Văn T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lò Như Q cho đến khi cháu trưởng thành, và có khả năng lao động. Chị Lò Thị H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 1.500.000đ/tháng cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản riêng, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về án phí: Buộc đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Chị Lò Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với Anh Lò Văn T có địa chỉ cư trú Bản N, xã M, tỉnh Sơn La. Vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Sơn La theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điểu 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự 2025.

Chị Lò Thị H và anh Lò Văn T đã có bản tự khai; chị H và anh T đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 năm 2015 xét xử vắng mặt chị Lò Thị H và anh Lò Văn T.

[2] Về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị H và anh Lò Văn T có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình; có đăng ký kết hôn ngày 20/01/2021 tại UBND xã P, huyện M (nay là UBND xã M), tỉnh Sơn La, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị ly hôn với anh Lò Văn T do vợ chồng anh chị chung sống không có hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn, đã sống ly thân từ năm 2023. Anh T không nhất trí ly hôn do chị H đã tự ý bỏ nhà đi làm thuê không quan tâm đến chồng con.

Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, chị H đã không chung sống với anh T từ năm 2023 cho đến nay, mục đích hôn nhân chung sống hạnh phúc không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị H được ly hôn với anh T.

[2.2] Về con chung: Có 01 con chung là Lò Như Q, sinh ngày 22/01/2021, chị H đề nghị anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Q. Chị H sẽ cấp dưỡng hàng tháng 1.500.000đ để nuôi con. Anh T cũng nhất trí trong trường hợp ly hôn sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lò Như Q và yêu cầu chị H cấp dưỡng 1.500.000đ/1 tháng cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi. Xét thấy, chị H hiện đi làm ăn xa, không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con nên cần để cháu Q ở cùng anh T. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, cần chấp nhận nguyện vọng của anh T, giao Lò Như Q cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: căn cứ vào trình bày, đề nghị của chị H và anh T, căn cứ vào điều 82, điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Lò Như Q 1.500.000đ/1 tháng cho đến khi cháu Q trưởng thành, đủ 18 tuổi.

[2.4] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, sau này nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự riêng.

[2.5] Về tài sản riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.6] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nguyên đơn chị Lò Thị H là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nguyên đơn chị Lò Thị H, bị đơn anh Lò Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, điều 81, điều 82, điều 83, điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị H ly hôn với anh Lò Văn T.
  2. Về con chung:
  3. Giao con chung là cháu Lò Như Q, sinh ngày sinh ngày 22/01/2021 cho anh Lò Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

  4. Về cấp dưỡng nuôi con chung:
  5. chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Lò Như Q 1.500.000đ/1 tháng cho đến khi cháu Q trưởng thành, đủ 18 tuổi có khả năng lao động.

  6. Về tài sản chung:
  7. Không xem xét, giải quyết, sau này nếu các đương sự có tranh chấp sẽ khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.

  8. Về tài sản riêng, nợ chung:
  9. Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

  10. Về án phí:
  11. Chị Lò Thị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.

  12. Về quyền kháng cáo:
  13. Nguyên đơn chị Lò Thị H, bị đơn anh Lò Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 1 - Sơn La;
  • - Thi hành án tỉnh Sơn La;
  • - UBND xã Mường La, tỉnh Sơn La (để vào sổ hộ tịch);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đào Thị Quỳnh Trang

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Hùng

Lò Thị Quỳnh

Đào Thị Quỳnh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lò Thị H xin ly hôn anh Lò Văn Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger