Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒA AN

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25-6-2025

V/v Xin Ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lục Thị Út.

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Bà Nguyễn Thị Út.

2. Ông Đàm Văn Dần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Bích Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện

huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An tham gia phiên tòa: Bà

Nông Thị Huệ – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025, về việc “Xin Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 và thông báo về việc mở lại phiên tòa dân sự sơ thẩm số 03/TB-TA ngày 05 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm A, xã V, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Phùng Văn H1, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm N, xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 02 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H trình bày:

Chị và anh Phùng Văn H1 kết hôn vào ngày 22/6/2009, trước khi kết hôn có được tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại xóm N, xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, không có sự tôn trọng lẫn nhau. Anh H1 mắc tệ nạn xã hội, nghiện hút ma túy, chị H khuyên bảo nhiều lần nhưng anh H1 không nghe, vẫn chứng nào tật đấy không thay đổi, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Khi xảy ra mâu thuẫn hai vợ chồng có đánh đập, xô xát nhưng không có thương tích và đã được hai bên gia đình, vợ chồng đã tự hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Chị H và anh H1 đã ly thân được gần 10 năm. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Văn H1.

Về con chung: Chị H và anh H1 có 01 con chung, sinh ngày 29/11/2010, mang tên Phùng Đức H2.

Hiện nay con chung đang sống cùng chị H, sau khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị H không yêu cầu anh H1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung, về nợ chung: Chị H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, đồng thời cũng không có vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phùng Văn H1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi được lời khai, không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

  1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:
    • + Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
    • Về xác định thẩm quyền: Chị H khởi kiện ly hôn anh Phùng Văn H1 trú tại xóm N, xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng do vậy thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Hòa An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 Bộ luật tố Tụng dân sự, cụ thể như: Lập hồ sơ vụ án, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của đương sự nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thanh H, bị đơn là anh Phùng Văn H1, xác định quan hệ tranh chấp là Ly hôn, xác minh, thu thập các tài liệu chứng cứ đúng quy định của pháp luật. Thông báo về phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đầy đủ.
    • Về việc gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát: Tòa án đã gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 15 ngày để nghiên cứu theo đúng quy định.
    • + Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên toà: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
  2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt và đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Phùng Văn H1.
  3. Quan điểm giải quyết vụ án:
    • Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H theo quy định tại Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
    • Về con chung: Có 01 con chung sinh ngày 29/11/2010, hiện đã trên 7 tuổi, đề nghị HĐXX xem xét theo nguyện vọng của con chung.
    • Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét
    • Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Thanh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Văn H1 là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh H1 có Hộ khẩu thường trú tại huyện H, tỉnh Cao Bằng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

[2] Về tố tụng:

Anh Phùng Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải mà vẫn cố tình vắng mặt. Do vậy, theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Anh H1 đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập dự phiên tòa xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Phùng Văn H1.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Đối với yêu cầu ly hôn của chị H: Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Phùng Văn H1 tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 6 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng nên hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau; thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng bất đồng về quan điểm, lối sống, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, không có sự tôn trọng lẫn nhau. Anh H1 mắc tệ nạn xã hội, nghiện hút ma túy, chị H và gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh H1 không nghe, vẫn chứng nào tật đấy không thay đổi, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Chị H và anh H1 đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh H1.

Tại biên bản xác minh ngày 09/5/2025, ông Mông Văn D, Bí thư, Trưởng xóm X, xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng xác nhận: Vào khoảng năm 2015 – 2016 chị H đi xuất khẩu lao động ở M, từ đó đến nay chị H không về sinh sống tại xóm N, xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Còn anh H1 là người nghiện ma túy, năm 2022-2023 có được đưa đi cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng, đến năm 2024 H1 được trở về sinh sống tại địa phương, hiện tại H1 đang làm gỗ cho anh trai của H1 ở gần nhà.

Tại biên bản xác minh ngày 06/6/2025, bà Đàm Thị O là mẹ đẻ của anh Phùng Văn H1 xác nhận: Hai vợ chồng H, H1 đã ly thân từ năm 2013, do chị H đi xuất khẩu lao động tại M. Từ đó cho đến nay chị H không về sống chung cùng anh H1, bản thân bà cũng biết anh Hoàn nghiệp ma túy, đã đi cai nghiện bắt buộc một lần nhưng không thành công. Việc chị H, anh H1 ly hôn bà không có ý kiến gì, do chị H, anh H1 tự quyết định. Những lần trước anh H1 có nhận được các thông báo, giấy triệu tập của Tòa án nhân dân huyện Hòa An gửi đến, nhưng bà không biết lý do tại sao anh H1 không đến Tòa. Hiện nay anh H1 không ở nhà, đã đi khoản hơn 10 ngày, anh H1 đi đâu làm gì bà không biết vì anh H1 không sử dụng điện thoại, bà cũng không liên lạc được.

Căn cứ vào các biên bản xác minh nêu trên, xét thấy anh H1 đã được triệu tập đến Tòa án nhiều lần để tạo điều kiện cho hai bên hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng anh H1 vẫn vắng mặt và cũng không có mặt tại phiên tòa xét xử. Điều này thể hiện anh H1 không còn tha thiết đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh H1 không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được HĐXX chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Chị H và anh H1 có 01 con chung, sinh ngày 29/11/2010, mang tên Phùng Đức H2.

Hiện nay con chung đang sống cùng chị H, sau khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung và không yêu cầu anh H1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Cháu Phùng Đức H2 có ý kiến, nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống cùng mẹ Nguyễn Thị Thanh H.

Xét ý kiến của chị Nguyễn Thị Thanh H và nguyện vọng của cháu Phùng Đức H2, Hội đồng xét xử thấy: Cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con cái. Song việc giao con chưa thành niên cho ai nuôi dưỡng cần phải xem xét về mọi mặt và đáp ứng được quyền lợi của con để không ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ nhỏ. Hiện nay cháu H2 đang sinh sống cùng chị H, có nơi ở, học tập ổn định. Do không có ý kiến của anh H1 về việc nuôi con chung, mặt khác cháu H2 có nguyện vọng được sống cùng mẹ nên việc giao con chung cho chị H chăm sóc, giáo dục là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

[4] Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị H tự khai giữa chị và anh H1 không có tài sản chung cũng như vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do chưa có ý kiến của anh H1 về các vấn đề này nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết, nếu sau ly hôn có tranh chấp, các bên có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000,₫ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84, 116 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh H về việc yêu cầu ly hôn với anh Phùng Văn H1.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn anh Phùng Văn H1.

      Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng cấp ngày 22/6/2009 không còn giá trị pháp lý.

    2. Về con chung: Giao cháu Phùng Đức H2, sinh ngày 29 tháng 11 năm 2010 cho chị Nguyễn Thị Thanh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

      Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

    3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh H không yêu cầu anh H1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn để nộp vào Ngân sách Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001480 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Xác nhận chị H đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo đúng quy định./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Cao Bằng;
  • - VKSND huyện Hòa An;
  • - CC THADS huyện Hòa An;
  • - UBND xã Bạch Đằng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lục Thị Út

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng về xin ly hôn

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị Thanh H xin ly hôn anh Phùng Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger