|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06 /2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25/06/2025.
V/v Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG - TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Thịnh;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Bá Viên và ông Đỗ Quốc Kỳ;
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thành Đạt - Thư ký Toà án;
Kiểm sát viên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong.
Ngày 25 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST-HNGĐ ngày 24/03/2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/05/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/06/2025 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị B, sinh năm 1987 (Vắng mặt có lý do);
- Bị đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1987 (Vắng mặt không có lý do);
Cùng cư trú tại: Xóm Nhõi 3, xã Hợp Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại phiên tòa ngày hôm nay theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn xin xét xử vắng mặt bà bùi Thị B trình bày như sau:
* Về quan hệ hôn nhân: Tôi có kết hôn với chồng là Bùi Văn T, sinh năm 1987, chúng tôi có đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Phong (Nay là xã Hợp Phong), huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, ngày 25/07/2006. Sau khi cưới nhau thời gian đầu tình cảm vợ chồng hạnh phúc. Đến tháng 04/2024 thì chúng tôi bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T đi ngoại tình với người phụ nữ khác, anh T là người hay rượu che, mỗi lần say rượu về là lại chửi bới, lăng mạn và xúc phạm tôi. Thậm chí rất nhiều lần anh T say rượu còn hành hung và đánh đập tôi, gần đây anh T còn bóp cổ và dọa giết tôi, chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 04/2024 cho tới nay, anh T hiện đã đi sang nhà người phụ nữ kia sinh sống nhưng tôi không B địa chỉ cụ thể. Thỉnh thoảng anh T có về nhà, gặp tôi anh ta lại chửi bới như mọi lần rồi lại đi. Tôi thấy tình cảm không còn, không ai còn quan tâm đến ai nữa mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tôi không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân như thế này. Nay tôi làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cao Phong giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Bùi Văn T.
* Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng tôi có 01 (Một) con chung tên là Bùi Ngọc H, sinh ngày 09/08/2006, sức khỏe tốt. Hiện cháu H đã trưởng thành nên về phần con chung tôi không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về phía ông Bùi Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng “Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa” nhưng không có kết quả, ông T vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi cho Tòa án.
2. Tại biên bản xác minh ngày 06/05/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Phong tại Công an xã Hợp Phong, trưởng xóm Nhõi 3 và gia đình bà Bùi Thị B, ông Bùi Văn T với nội dung:
Ông Bùi Văn T, sinh năm 1987 và bà Bùi Thị B, sinh năm 1987 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm H và đăng ký kết hôn hợp pháp tại Uỷ ban nhân dân xã Xuân Phong (Nay là xã Hợp Phong), huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, ngày 25/07/2006. Sau một thời gian chung sống cùng nhau thì vợ chồng ông T bà B phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T đi ngoại tình với người phụ nữ khác, thường xuyên say rượu chửi bới, lăng mạn, xúc phạm và đánh đập vợ con. Hiện ông T đi làm ăn xa không khai báo với chính quyền địa phương, ông T cũng không nói với gia đình đi đâu làm gì và rất ít khi về nhà mỗi lần về chỉ tranh thủ rồi lại đi. Hiện tại trên giấy chứng nhận kết hôn ông Bùi Văn T, sinh năm 1986 nhưng qua xác minh tại Công an xã Hợp Phong cho thấy ông Bùi Văn T sinh năm 1987.
Ông T và bà B có 01 (Một) con chung tên là Bùi Ngọc H, sinh ngày 09/08/2006. Hiện tại cháu H đã trưởng thành.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
* Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định trong bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ và đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ. Bị đơn không chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng.
* Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà Bùi Thị B được ly hôn với ông Bùi Văn T.
* Về con chung: Vợ chồng ông T bà B có 01 (Một) con chung tên là Bùi Ngọc H, sinh ngày 09/08/2006. Hiện cháu H đã trưởng thành nên về phần con chung đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Xét thấy bà Bùi Thị B khởi kiện ông Bùi Văn T là vụ án dân sự tranh chấp “Ly hôn” căn cứ vào giấy xác nhận thông tin về cư trú, ông T có nơi cư trú tại xóm Nhõi 3, xã Hợp Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Phiên tòa ngày 09/06/2025, nguyên đơn bà Bùi Thị B (Có mặt), bị đơn ông Bùi Văn T vắng mặt không có lý do (Vắng mặt lần thứ nhất) nên Hội đồng xét xử hoãn xét xử vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Bùi Thị B (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) bị đơn ông Bùi Văn T, vắng mặt không có lý do (Vắng mặt lần thứ 2). Vì vậy, căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Văn T và bà Bùi Thị B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Phong (Nay là xã Hợp Phong), huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, ngày 25/07/2006. Trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu, chúng cứ do Tòa án thu thập thể hiện ông Bùi Văn T, sinh năm 1987, qua đó Tòa án đã xác minh tại Công an xã Hợp Phong và các tài liệu có trong hồ sơ khẳng định ông Bùi Văn T có tuổi thật là sinh năm 1987. Trên cơ sở lời khai của bà B cho thấy, quá trình chung sống ông bà không có hạnh phúc. Ông T ngoại tình với người phụ nữ khác, là người hay rượu chè, thường xuyên chửi bới, đánh dập vợ con, không quan tâm lo lắng chăm sóc cho gia đình và đã bỏ đi sinh sống với người phụ nữ khác khác. Hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống không thể hàn gắn được, hiện tại ông bà sống ly thân đã lâu vì vậy khả năng đoàn tụ là rất khó.
Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa ông T và bà B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị B là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 39 Luật dân sự.
[3]. Về con chung: Quá trình chung sống ông T và bà B có 01 (Một) con chung tên là Bùi Ngọc H, sinh ngày 09/08/2006. Hiện cháu H đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về án phí: Bà Bùi Thị B phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51, 53, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Bà Bùi Thị B được ly hôn với ông Bùi Văn T.
2. Về con chung: Vợ chồng ông T, bà B có 01 (Một) con chung tên là Bùi Ngọc H, sinh ngày 09/08/2006. Hiện cháu H đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Bà Bùi Thị B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002894 ngày 24/03/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Phong, bà B đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đức Thịnh |
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG - TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG - TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
