Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN G

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST

Ngày 24/03/2025

V/v: Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị H

Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn T

2. Bà Trần Thị L

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn T

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Bà Vũ Thị H, Kiểm sát viên.

Ngày 24/03/2025, tại trụ sở Tòa án, Tòa án huyện G, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 60/2025/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QDXXST - HNGĐ ngày 07/03/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1990. HKTT: Thôn C, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Gia T, sinh năm 1987. HKTT: Thôn C, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh T vào 2012 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Sau này vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn do đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn giữa bố mẹ chồng và nàng dâu. Mâu thuẫn giữa chị và anh T đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị xác định quan hệ tình cảm không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là cháu Lê Thùy L, sinh ngày 17/12/2012 và cháu Lê Ngọc L1, SN 18/12/2015. Hiện nay các cháu hoàn toàn khỏe mạnh và phát triển bình thường. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu L còn cháu L1 giao cho anh T nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị đề nghị giải quyết theo pháp luật.

Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai tại Tòa án, bị đơn anh Lê Gia T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Y vào năm 2012 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau ngay, quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Thỉnh thoảng vợ chồng cũng có mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt, không đáng kể mâu thuẫn giữa bố mẹ chồng và nàng dâu. Chị Y có đơn xin ly hôn với anh, anh xác định quan hệ tình cảm vợ chồng vẫn còn, mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, vì các con nên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị Y có 02 con chung là cháu Lê Thùy L, sinh ngày 17/12/2012 và cháu Lê Ngọc L1, SN 18/12/2015. Hiện nay các cháu hoàn toàn khỏe mạnh. Nếu chị Y nhất quyết ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con chung. Cấp dưỡng nuôi con: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên hòa giải cho anh T, anh T không đồng ý ly hôn nhưng vẫn không có mặt tại Tòa án để tham gia hòa giải. Tòa án cũng đã ra văn bản yêu cầu anh T cung cấp tài liệu chứng cứ trình bày quan điểm của anh đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Y, chứng minh khả năng nuôi dưỡng con chung nhưng anh T vẫn không cung cấp cho Toà án bất cứ tài liệu gì.

Tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh T, chị Y sinh sống, lấy lời khai của đại diện gia đình chị Y và đại diện gia đình anh T đều xác nhận: Anh T và chị Y kết hôn với nhau năm 2012 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Đ. Chị Y và anh T có 02 con chung là cháu Lê Thùy L, sinh ngày 17/12/2012 và cháu Lê Ngọc L1, SN 18/12/2015. Quá trình chung sống chị Y và anh T có nảy sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn là có thật, đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không được, đại diện gia đình anh T mong muốn chị Y và anh T về đoàn tụ với nhau. Về vấn đề con chung, đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi.

Tại phiên tòa:

Chị Y vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh T. Chị xác nhận hiện nay chị và cháu L đã chuyển về quê ngoại tại huyện L sinh sống. Cháu L cũng đã chuyển trường, chuyển lớp về L để học tập ổn định. Do vậy, chị xin được nuôi dưỡng cháu L, còn L1 giao cho anh T nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh T xác nhận vợ chồng mâu thuẫn là có thật, mâu thuẫn giữa bố mẹ chồng và nàng dâu, anh không có tiếng nói chung với chị Y, tuy nhiên nếu chị Y rút đơn thì anh sẽ cố gắng thay đổi, khắc phục tình trạng mâu thuẫn vợ chồng như hiện nay. Nếu chị Y vẫn kiên quyết xin ly hôn thì anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung. Cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và công nợ anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án là đúng pháp luật. Đối với việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, không đến tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án. Đại diện VKS đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 28, 35, 39, 91, 92, 144, 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 51; 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Lê Gia T.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Thùy L, sinh ngày 17/12/2012 cho chị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục và giao cháu Lê Ngọc L1, SN 18/12/2015 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và công nợ không xem xét giải quyết.
  3. Về án phí: Chị Y phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y và anh Lê Gia T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã Đ cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên xác định quan hệ hôn nhân này là hợp pháp.

    Chị Y trình bày quá trình chung sống cùng nhau vợ chồng có nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, hôn nhân không hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa chị và anh T ngày càng trầm trọng, đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, quan hệ tình cảm không còn. Anh T trình bày quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hằng ngày, mâu thuẫn giữa bố mẹ chồng với nàng dâu, tại phiên toà anh cũng xác nhận giữa anh và chị Y không có tiếng nói chung. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương, địa phương và đại diện gia đình chị Y, anh T đều xác nhận quá trình chung sống cùng nhau chị Y và anh T đã nhiều lần xảy ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa chị Y và anh T đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không được.

    Mặc dù anh T cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, anh không đồng ý ly hôn nhưng lại không đến Toà án để tham gia các phiên hoà giải, tại phiên toà anh T cũng không đưa ra được bất cứ phương án nào để vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau.

    Từ những phân tích trên, HĐXX nhận định: Mâu thuẫn vợ chồng là có thật, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có biện pháp nào để hòa giải đoàn tụ, Chị Y, anh T không còn duy trì mối quan hệ quan tâm, chăm sóc yêu thương nhau, đơn xin ly hôn của chị Y là có căn cứ chấp nhận, nên xử cho chị Y được ly hôn anh T.

  2. [3] Về con chung: Chị Y có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu L, giao cháu L1 cho anh T nuôi dưỡng. Anh T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con chung.

    Xét thấy nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung của chị Y và anh T là chính đáng. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, anh T và chị Y đều trình bày bản thân làm nghề tự do, mức thu nhập bình quân mỗi tháng ngang nhau là khoảng từ 7.000.000 đến 7.500.000 đ, ngoài ra anh T cũng không cung cấp được các chứng cứ, tài liệu chứng minh mình đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng được cả 02 con chung theo thông báo yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ của Tòa án. Bên cạnh đó cháu L có nguyện vọng được ở với mẹ, còn cháu L1 có nguyện vọng được ở với bố. Hiện nay cháu L đã chuyển trường học về sinh sống cùng mẹ. Do vậy, xét đến nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi và để đảm bảo ổn định tâm lý, cuộc sống, học tập và sinh hoạt của các cháu, cần chấp nhận yêu cầu của chị Y, giao cháu L cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, giao cháu L1 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

  3. [4] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con tài sản chung và công nợ: Chị Y và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  4. [5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có sơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 91, 92, 144, 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51; 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Lê Gia T.
  • - Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Thùy L, sinh ngày 17/12/2012 cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục và giao cháu Lê Ngọc L1, SN 18/12/2015 cho anh Lê Gia T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
  • Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  • - Cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và công nợ: Không xem xét giải quyết.
  • - Án phí: Chị Y phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/24; Số 0001062 ngày 24/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKS huyện và tỉnh;
  • - THADS huyện G;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Đ;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Y xin ly hôn với anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger