TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21/02/2025 V/v tranh chấp ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Lý Xuyên;
- Ông Mai Như Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Phương T - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/01/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Tô Thị Kim H, sinh năm: 1985; nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày: Bà Tô Thị Kim H và ông Nguyễn Hữu H1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa theo giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 02 tháng 5 năm 2018. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn.
-Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hữu Đức H2 (sinh ngày 17/9/2020). Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, được ly hôn. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Hữu Đức H2 (sinh ngày 17/9/2020) cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ theo các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Thị Kim H và ông Nguyễn Hữu H1 tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa theo giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 02 tháng 5 năm 2018. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Tô Thị Kim H và ông Nguyễn Hữu H1 là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không hạnh phúc do không hòa hợp, có nhiều mâu thuẫn và hiện nay nguyên đơn khẳng định không còn tình cảm với bị đơn nên xin ly hôn. Như vậy, mục đích hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn.
[2.2] Về con chung: Xét thấy con chung là Nguyễn Hữu Đức H2 (sinh ngày 17/9/2020) đang còn nhỏ cần có sự chăm sóc của mẹ và hiện do nguyên đơn nuôi dưỡng, chăm sóc ổn định nên giao cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
[3] Từ những phân tích trên có căn cứ xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Nguyên đơn chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Thị Kim H:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Thị Kim H và ông Nguyễn Hữu H1 được ly hôn.
1.2. Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Hữu Đức H2 (sinh ngày 17/9/2020) cho bà Tô Thị Kim H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn.
- Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: không có yêu cầu nên không xem xét.
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp chăm sóc nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung.
1.3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
2. Về án phí: Bà Tô Thị Kim H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về “ly hôn” nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004883 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Bà Tô Thị Kim H đã nộp đủ án phí.
3. Quy định: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiếu |
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Tô Thị Kim H và ông Nguyễn Hữu H1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa theo giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 02 tháng 5 năm 2018. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn. -Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hữu Đức H2 (sinh ngày 17/9/2020). Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. -Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
