|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST Ngày 20-02-2025 Vv Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Thanh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Dũ
- Ông Lê Văn Thưởng
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh An – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Kiều Thị Mỹ Tiên– Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 192/2024/TLST-DS ngày 28-10-2024, về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20-01-2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích T, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Võ Tấn L, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Người làm chứng: Bà Huỳnh Thị Thu V, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 21-10-2024 và tại biên bản Toà án hoà giải ngày 09-12-2024, nguyên đơn bà Lê Thị Bích T trình bày:
Bà và ông Võ Tấn L chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2004, không có đã đăng ký kết hôn. Bà và ông L chung sống với nhau đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 01-2024 đến nay. Bà yêu cầu Toà án không công nhận bà và ông L là vợ chồng.
Về con chung: Bà và ông L có 03 con chung là Võ Tấn P, sinh ngày 13-4-2005; Võ Nhật M, sinh ngày 10-8-2010; Võ Ngọc Bích T1, sinh ngày 26-4-2019. Hiện nay, P đã trên 18 tuổi lao động được, bà không yêu cầu Toà án giải quyết. Bà yêu cầu tiếp tục nuôi cháu M và cháu T1.
Về cấp dưỡng cho con: Bà không yêu cầu ông L cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Tại biên bản Toà án hoà giải ngày 09-12-2024, bị đơn ông Võ Tấn L trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của bà T về quan hệ hôn nhân, con chung; không yêu cầu giải quyết về tài sản chung; ông bà không có nợ chung.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 09-12-2024, người làm chứng bà Huỳnh Thị Thu V trình bày:
Bà là em bạn dì ruột của bà Lê Thị Bích T. Bà T và ông L xảy ra mâu thuẫn là do ông L có nhiều mối quan hệ tình cảm bên ngoài. Bà T và ông L có 03 con chung, trong đó 01 người con đã trên 18 tuổi lao động được, còn lại 02 bé nhỏ đang sống với bà T. Khi bà T và ông L không còn chung sống, bả T trực tiếp nuôi con sẽ tốt hơn.
Kiểm sát viên phát biểu: Về tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị khắc phục về tố tụng. Về nội dung, đề nghị không công nhận bà T và ông L là vợ chồng; giao 02 con chung của bà T và ông L là Võ Nhật M và cháu Võ Ngọc B Tuyền Tuyền cho bà T tiếp tục nuôi; về cấp dưỡng cho con, ông L không phải cấp dưỡng do bà T chưa yêu cầu; về tài sản chung, bà T và ông L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về nợ chung, bà T và ông L trình bày thống nhất không có nên không xem xét. Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Toà án: Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con; bị đơn ông Võ Tấn L cư trú tại huyện T, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tân Phước theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Lê Thị Bích T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn ông Võ Tấn L được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà T, ông L.
[3]. Về nội dung vụ án: Xét bà Lê Thị Bích T và ông Võ Tấn L chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2004, nhưng ông bà không có đăng ký kết hôn là không tuân thủ theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không công nhận bà T và ông L là vợ chồng.
[4]. Về con chung: Bà T và ông L có 03 con chung là Võ Tấn P, sinh ngày 13-4-2005, đã trên 18 tuổi lao động được; Võ Nhật M, sinh ngày 10-8-2010; Võ Ngọc Bích T1, sinh ngày 26-4-2019. Xét từ ngày bà T và ông L sông ly thân, cháu M, cháu T1 sống với bà T được bà chăm sóc chu đáo. Nay, bà T yêu cầu nuôi 02 con là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về cấp dưỡng cho con: Bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng cho con, Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về tài sản chung: Bà T và ông L không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về nợ chung: Bà T và ông L trình bày thống nhất không có nên không xem xét.
[8]. Về án phí: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tổ tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9]. Xét ý kiến và đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 9, khoản 1 Điều 14, các điều 15, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Lê Thị Bích T và ông Võ Tấn L là vợ chồng.
- Về con chung: Bà Lê Thị Bích T được trực tiếp nuôi cháu Võ Nhật M, sinh ngày 10-8-2010 và cháu Võ Ngọc Bích T1, sinh ngày 26-4-2019, hiện bà đang nuôi.
- Về án phí: Bà Lê Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003598 ngày 21-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, xem như đã nộp xong án phí.
- Bà T, ông L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Ông Võ Tấn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thanh Liêm |
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Bích T ly hôn Võ Tấn L
