Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG THÀNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 17/02/2025.

V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAΙ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Bình.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lưu Đức Chung.
  2. Bà Lê Thị Ánh Sáng

Thư ký phiên toà: Ông Đặng Xuân Lâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 833/2025/TLST- HNGĐ ngày 29/10/2024, về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/QÐST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Ngọc T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1994; Địa chỉ: G, ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
  • (Chị T, anh H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, chị Hồ Thị Ngọc T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hữu H về chung sống với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ngày 26/4/2019 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 92/2019. Hôn nhân giữa anh chị là tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì vợ chồng anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ngày càng không hợp nhau nên thường xuyên cãi vã lẫn nhau, cuộc sống hôn nhân của anh chị không còn hạnh phúc. Chị và anh T1 đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, không thể đoàn tụ được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hữu H.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Hồ Anh Q, sinh ngày 06/4/2020. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Chị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải và các Quyết định tổ tụng khác cho anh Nguyễn Hữu H nhưng anh H không đến Tòa án làm việc, vì vậy không có lời khai của anh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ theo luật định, đối với bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Buộc nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Chị T có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1994; Nơi cư trú hiện nay: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh H được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H tự nguyện yêu thương chung sống, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 92/2019 ngày 26/4/2019 theo đúng quy định tại các điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên xác nhận hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.

2.2. Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Trong quá trình giải quyết vụ án chị T cho rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã ngày càng trầm trọng, anh chị đã sống ly thân nhau từ hai năm nay, từ khi sống ly thân vợ chồng không còn quý trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người còn lại muốn sống ra sao thì sống. Nay chị kiên quyết ly hôn.

Bị đơn anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng, không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Điều này cho thấy anh H không còn quan tâm đến đời sống hôn nhân với chị T.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xét thấy yêu cầu của chị T về việc xin ly hôn với anh H là có cơ sở để chấp nhận.

2.3. Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Hồ Anh Q, sinh ngày 06/4/2020. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q sau khi ly hôn và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Chị T có đủ các điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con chung, từ khi anh chị sống ly thân đến nay, con chung do chị nuôi dưỡng và cháu vẫn phát triển khoẻ mạnh bình thường.

Trong quá trình tiến hành tố tụng, bị đơn anh H không đến Toà án tham gia tố tụng, không có ý kiến, yêu cầu về con chung. Từ đó cho thấy, anh H không có ý kiến về việc nuôi dưỡng con chung của nguyên đơn.

Do đó, HĐXX xét thấy yêu cầu chị T về con chung là có cơ sở để chấp nhận. Xét cần giao con chung cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, tạm thời anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.4. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

2.5. Về nợ chung: Các đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc chị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Xét đề nghị nêu trên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là phù hợp với nhận định của HĐXX nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các điều 8, 9, 51, 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị Ngọc T về việc “Tranh chấp ly hôn”.

  1. Về hôn nhân: Cho chị Hồ Thị Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Hữu H.
  2. Về con chung: Giao cho chị Hồ Thị Ngọc T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 01 (một) con chung tên Nguyễn Hồ Anh Q, sinh ngày 06/4/2020. Tạm thời anh Nguyễn Hữu H không phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Anh H có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về tài sản chung: Không xem xét.
  5. Về nợ chung: Không xem xét.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hồ Thị Ngọc T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), theo biên lai thu số 0016411 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Chị T đã nộp đủ án phí.
  7. Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị Ngọc T, anh Nguyễn Hữu H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Long Thành;
  • - UBND phường Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
  • - Chi cục T.H.A. dân sự huyện Long Thành;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger