|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13/02/2025
V/v tranh chấp "ly hôn"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Tám
Ông Huỳnh Ngọc Trứ
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phạm Kiều Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Trong ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 229/2024/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự.
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thanh L, sinh năm 1996 (có mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1987 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 24/7/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Huỳnh Thanh L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Hoàng V do quen biết và được gia đình hai bên đồng ý, chị và anh V tổ chức đám cưới vào năm 2022, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 39 ngày 20/6/2022. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến tháng 02/2024 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên tranh cãi, không có tiếng nói chung trong gia đình, anh V thường xuyên đi nhậu về đánh chị, việc anh V đánh chị thì chị không có báo chính quyền địa phương. Chị và anh V đã ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ tháng 7/2024 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Hoàng V.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Hoàng V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh V vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Hoàng V vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt bị đơn tại phiên tòa là phù hợp.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn”, bị đơn anh Nguyễn Hoàng V có hộ khẩu thường trú tại ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
[3] Về quan hệ hôn nhân: chị L và anh V về chung sống với nhau vào năm 2022, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 39 ngày 20/6/2022 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 02 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên tranh cãi, không có tiếng nói chung trong gia đình, anh V thường xuyên đi nhậu về đánh chị. Chị và anh V đã ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ tháng 7/2024 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy: sau khi chị L và anh V xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2022, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2024 phát sinh mâu thuẫn. Từ khi ly thân cho đến nay thì chị L và anh V không còn liên lạc với nhau. Sau khi tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh V để thông báo về yêu cầu ly hôn của chị L, nhưng anh V không có ý kiến gì; không có mặt tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa, anh V không thể hiện được ý kiến, cũng không đưa ra biện pháp cụ thể nào để hàn gắn lại mối quan hệ vợ chồng. Việc anh V không đến trong suốt quá trình tòa án giải quyết vụ án là anh V đã mặc nhiên từ bỏ cơ hội để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau. Mặc dù, Tòa án đã động viên nhưng chị L vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh V. Từ những tình tiết trên, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử nhận định tình trạng hôn nhân giữa chị L, anh V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị L trình bày không có, anh V thì không có ý kiến gì về con chung, tài sản chung, nợ chung. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Buộc chị Huỳnh Thanh L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thanh L được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng V.
- Về án phí: Chị Huỳnh Thanh L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp theo biên lai thu số 0005127 ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên xem như chị L đã nộp xong tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Thoa |
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
