Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08-4-2025

V/v tranh chấp Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hồ Bích Ngọc;
  2. Bà Lê Thị Kim Ngàn.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Trâm Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân sơ thẩm thụ lý số: 221/2024/TLST-HN ngày 02/10/2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HN ngày 10/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QÐST-HNGĐ ngày 10/3/2025, giữa:

  • - Nguyên đơn: Ông Bùi Tiến D, sinh năm 1961.

    Địa chỉ thường trú: Thôn Đ, xã A, huyện H, Thành phố Hà Nội.

    Nơi ở hiện nay: A T, xã B, huyện H, Tp .. (Có mặt)

  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết A, sinh năm 1963.

    Địa chỉ thường trú: Thôn Đ, xã A, huyện H, Thành phố Hà Nội.

    Nơi ở hiện nay: Căn hộ 1407 Tòa nhà BMC, D V, phường C, Quận A, Tp . (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/8/2024, ý kiến trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa nguyên đơn ông Bùi Tiến D trình bày:

Ông D và bà Nguyễn Thị Tuyết A chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy công nhận kết hôn số 83 quyển số 01 do Đại sứ quán C tại Bungaria cấp ngày 13/11/1987. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên kể từ năm 2010 về sau vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, dù đã nỗ lực hàn gắn nhưng tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Ông và bà Tuyết A đã ly thân từ năm 2012 đến nay. Nhận thấy mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được, nên ông yêu cầu Toà giải quyết ly hôn với bà Tuyết A để cả hai ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông và bà Tuyết A có 03 con chung tên Bùi Diệp A1 (Nữ, sinh ngày 30/01/1988); Bùi Trường L (N, sinh ngày 06/4/1999); Bùi Khang D1 (N, sinh ngày 21/4/2004). Các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông D khai vợ chồng không có tài sản chung.

Về nợ chung: Ông D khai vợ chồng không có nợ chung.

Bà Nguyễn Thị Tuyết A là bị đơn, trong quá trình chuẩn bị xét xử đã được Toà án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, triệu tập tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục, trình tự tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
  • Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định ông D và bà Tuyết A tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn ngày 13/11/1987 theo Giấy công nhận kết hôn số 83 quyển số 01 do Đại sứ quán C tại Bungaria cấp nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn trình bày giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nhiều bất đồng về quan điểm sống, thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cố tình vắng mặt dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, thể hiện bị đơn không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình.

Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông D và bà Tuyết A ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông D được ly hôn với bà Tuyết A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có địa chỉ cư trú tại Quận A, Tp . nên đây là quan hệ tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

Căn cứ kết quả cung cấp chứng cứ của Công an xã A, huyện H, Tp . ngày 08/11/2024 và Công an phường C, Quận A, Tp . ngày 11/11/2024, có cơ sở xác định bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ Thôn Đ, xã A, huyện H, Tp . nhưng thực tế cư trú tại địa chỉ Căn hộ A Tòa nhà B, D V, phường C, Quận A, Tp .. Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung, tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập bị đơn tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành phiên toà xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về pháp luật nội dung:

- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Xét ông D và bà Tuyết A chung sống và đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán C tại B theo Giấy công nhận kết hôn số 83 quyển số 01 ngày 13/11/1987 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Ông D yêu cầu được ly hôn với bà Tuyết A vì vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nhiều mâu thuẫn và bất đồng quan điểm sống, thực tế vợ chồng sống ly thân từ năm 2012 đến nay, vợ chồng không còn liên hệ, không còn tình cảm dành cho nhau. Xét, bà Tuyết A đã được Toà án thông báo và triệu tập đến toà để giải quyết về yêu cầu ly hôn của ông D nhưng đều vắng mặt, thể hiện bà không còn quan tâm và mong muốn hàn gắn đoàn tụ với ông D. Việc duy trì quan hệ hôn nhân sẽ không đảm bảo cuộc sống hạnh phúc khi cả hai không còn tình cảm, mục đích của hôn nhân về xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, bền vững không đạt được. Do đó, ông D yêu cầu ly hôn với bà Tuyết A để ổn định cuộc sống là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Xét theo Giấy khai sinh số 05 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận H, Tp . cấp ngày 11/5/2004; Giấy khai sinh số 81 do Ủy ban nhân dân Phường H, Tp ., tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 03/7/1999; Giấy khai sinh số 49 do Phường H, Tp ., tỉnh Thái Nguyên cấp năm 1994 có cơ sở xác định lần lượt Bùi Khang D1 (N, sinh ngày 21/4/2004); Bùi Trường L (N, sinh ngày 06/4/1999); Bùi Diệp A1 (Nữ, sinh ngày 30/01/1988) là con chung của của ông D và bà Tuyết A. Các con chung đã trưởng thành nên nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết là có cơ sở chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai hiện không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan đến tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì các bên có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

- Xét đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nêu trên phù hợp với những đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử.

Do vậy, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện về ly hôn của nguyên đơn.

[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông D phải chịu án phí về Hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

    Ông Bùi Tiến D được ly hôn với bà Nguyễn Thị Tuyết A.

    Quan hệ hôn nhân giữa ông Bùi Tiến D và bà Nguyễn Thị Tuyết A theo Giấy công nhận kết hôn số 83 quyển số 01 do Đại sứ quán C tại Bungaria cấp ngày 13/11/1987 chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

  2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

    Ông Bùi Tiến D phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0037977 ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1. Ông D đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo:

    Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15. Đối với ông D kể từ ngày tuyên án; Đối với bà Tuyết A kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự:

    thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger