Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST

Ngày 03-06-2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thạch
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Luận
  • Ông Nguyễn Văn Hồng
  • Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 12/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 05 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh ngày: 05-02-1999; Căn cước số: [...], cấp ngày: 25/03/2025, nơi cấp: Bộ C;
  • Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  • Bị đơn: Trần Xuân Q, sinh ngày: 27/8/1998; Căn cước công dân số: [...]; cấp ngày: 24/7/2023; nơi cấp: Cục C1 về TTXH;
  • Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N; sinh năm 1962
  • Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 17-03-2025, bản tự khai ngày 09-4-2025 và đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 18-04-2025 của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày như sau:

  • - Về tình cảm: Chị với anh Trần Xuân Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự do tìm hiểu, hoàn toàn tự nguyện đến với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, có đăng ký kết hôn vào ngày 10-10-2018, tại UBND phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận với nhau được khoảng 04 năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cải vã, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không liên lạc, không quan tâm gì đến nhau. Nay, chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Trần Xuân Q.
  • - Về con chung: Quá trình hôn nhân vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Nguyễn Chí K, sinh ngày 04-06-2018. Do chị T không có thu nhập và không có công việc ổn định nên trước khi ly hôn chị T và anh Q đã thỏa thuận, thống nhất giao cháu Trần Nguyễn Chí K cho anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cùng anh Q mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 05/2025 cho đến khi cháu K đủ tròn 18 tuổi.
  • - Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết

* Tại đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 23-05-2025, bị đơn anh Trần Xuân Q trình bày như sau:

Về tình cảm: Bị đơn anh Trần Xuân Q thừa nhận quá trình đi đến hôn nhân, thời điểm kết hôn, thời gian chung sống hạnh phúc và thời gian mâu thuẫn đúng như nguyên đơn chị Nguyễn Thị T đã trình bày. Tuy nhiên, về nguyên nhân mâu thuẫn anh Trần Xuân Q cho rằng là do chị Nguyễn Thị T đã ngoại tình với người khác, không có trách nhiệm với gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vã. Anh Trần Xuân Q nhận thấy hiện nay không còn tình cảm với chị Nguyễn Thị T nên đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị T; Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung, cháu Trần Nguyễn Chí K, sinh ngày 04-06-2018. Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, cháu K ở với anh Q cùng bà nội Nguyễn Thị N (Mẹ đẻ anh Q), ở tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh nên anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng; Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện tại anh Q đã có mặt tại địa phương, tuy nhiên, vì mới xin được việc làm ổn định nên không thể sắp xếp được thời gian tham gia các buổi làm việc, phiên xét xử tại Tòa án, đề nghị Tòa án cho anh được xét xử vắng mặt.

* Tại biên bản ghi lời khai của bà Nguyễn Thị N ngày 14/05/2025 và đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 23/5/2025, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Trần Xuân Q. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị T, anh Q chung sống và đăng ký hộ khẩu thường trú ở chung với bà tại tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Anh Q hiện đang hiện đang đi làm ở Sóc Trăng, đã được bà N thông báo đầy đủ về các văn bản, tài liệu liên quan đến vụ án mà Tòa án tống đạt cho anh Q. Anh Q trình bày nguyện vọng là đồng ý ly hôn với chị T và nhận nuôi con chung cháu Trần Nguyễn Chí K và không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Tuy nhiên, do đi làm xa nên trước khi đi anh có nhờ bà N tạm thời chăm sóc cháu K thay anh. Anh Q trình bày, xin vắng mặt tại các buổi làm việc cũng như các phiên tòa xét xử vụ án của Tòa án, trường hợp anh sắp xếp được công việc thì sẽ tự liên hệ và đến Tòa án để làm việc.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N có đơn đề nghị được vắng mặt trong các buổi làm việc, phiên tòa xét xử và không có yêu cầu khởi kiện độc lập đối với nguyên đơn, bị đơn trong vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

  • - Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo các quy định tại Điều 68, 70, 71, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết nội dung vụ án theo luật định.
  • - Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/05/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc Hôn nhân và gia đình: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Trần Xuân Q; Đề nghị giao con chung cháu Trần Nguyễn Chí K, sinh ngày 04-6-2018 cho anh Trần Xuân Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị T và anh Trần Xuân Q về việc chị Nguyễn Thị T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 05 năm 2025 cho đến khi cháu K đủ tròn 18 tuổi;

Về tài sản, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét; Về án phí: Do các yêu cầu của đương sự đều thoả thuận được trước khi mở phiên toà, nên đề nghị buộc nguyên đơn phải nộp 50% án ly hôn, án phí cấp dưỡng nuôi con không có giá ngạch theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Trần Xuân Q. Anh Trần Xuân Q có đăng ký nơi cư trú và chỗ ở hiện nay tại tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T, bị đơn anh Trần Xuân Q và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết nội dung vụ án theo luật định.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về hôn nhân:

Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Xuân Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, có đăng ký kết hôn vào ngày 10-10-2018, tại UBND phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không tôn trọng, yêu thương và có trách nhiệm với nhau, từ năm 2022 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình. Chị T xin được ly hôn và anh Q cũng đồng ý ly hôn. Do đó, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình trầm trọng và nếu tiếp tục kéo dài cuộc sống thì mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Trần Xuân Q.

[3.2]. Về con chung:

Quá trình hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung cháu Trần Nguyễn Chí K, sinh ngày 04-6-2018. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, cháu Trần Nguyễn Chí K do anh Q và bà Nguyễn Thị N (mẹ đẻ anh Q) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Q có nguyện vọng nhận nuôi con chung và chị T cũng đồng ý. Do đó, giao cháu Trần Nguyễn Chí K, sinh ngày 04-6-2018 cho anh Trần Xuân Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị T và anh Trần Xuân Q về việc chị T đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 05 năm 2025 cho đến khi cháu K đủ tròn 18 tuổi.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung:

Nguyên đơn và bị đơn không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[4] Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị N không có yêu cầu khởi kiện độc lập đối với nguyên đơn, bị đơn trong vụ án, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[5]. Về án phí:

Các yêu cầu của đương sự đều tự thoả thuận được trước khi mở phiên toà, nên nguyên đơn phải nộp 50% án phí ly hôn sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con không có giá ngạch theo quy định pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Điều 3, Khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/05/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc Hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Trần Xuân Q.
  2. Về con cái: Giao con chung cháu Trần Nguyễn Chí K, sinh ngày 04-6-2018 cho anh Trần Xuân Q trực tiếp nuôi con, trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi con Trần Nguyễn Chí K đủ tròn 18 tuổi. Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị T và anh Trần Xuân Q về việc chị Nguyễn Thị T cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Trần Xuân Q mỗi tháng 2.000.000 đ (Hai triệu đồng), thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 05 năm 2025 cho đến khi cháu Trần Nguyễn Chí K đủ tròn 18 tuổi.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai ngăn cấm cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực, có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...], thanh toán trực tuyến tạm ứng án phí 81M6O3NGU7 ngày 04-04-2025 và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008489 ngày 07-05-2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
  2. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND thị xã Kỳ Anh;
  • - Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Kỳ Long, thị xã Kỳ Anh;
  • - Lưu Hồ sơ; VP-TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Ngọc Thạch

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger