Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 12-02-2025

Về việc: “Tranh chấp ly hôn,

nuôi con”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quốc Dũng

Các Thẩm phán: Ông Trần Trọng Nhân

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khải - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2024/TLPT-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 28/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Lê Thị Ngọc Y, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

- Bị đơn: anh Hồ Viết T, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: anh Hồ Viết T, bị đơn.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/02/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng tại phiên tòa, chị Lê Thị Ngọc Y trình bày: vào ngày 08/02/2022, chị và anh T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06/2022 ngày 08/02/2022. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, nhưng đến đầu năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm trong cuộc sống gia đình, anh T thường xúc phạm và bỏ bê chị Y trong khi chị Y đang mang thai, cuộc sống vợ chồng có những tranh cãi không thể hòa hợp được nên ngày càng trầm trọng hơn. Đến nay chị nhận thấy không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân được nữa nên chị làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về nuôi con chung: chị và anh T có 01 con chung là Hồ Thị Yến N, sinh ngày 31/07/2023. Khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi cháu N và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 (ba triệu) đồng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: chị Y xác định khối tài sản chung với anh T là 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng, chị yêu cầu anh T chia ½ giá trị tài sản chung tương đương với số tiền là 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn anh Hồ Viết T trình bày: anh thống nhất lời trình bày của chị Lê Thị Ngọc Y về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn và con chung. Nay chị Y khởi kiện yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.

Về nuôi con chung: anh và chị Y có 01 con chung là Hồ Thị Yến N, sinh ngày 31/07/2023. Khi ly hôn anh đề nghị giao cháu N cho chị Y trực tiếp nuôi và anh cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 (một triệu) đồng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: anh T xác định khối tài sản chung với chị Y là 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng, anh yêu cầu chia ½ giá trị tài sản chung tương đương với số tiền là 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng. Hiện nay anh đang nắm giữ số tài sản chung và có trách nhiệm giao lại cho chị Y số tiền 30.000.000 đồng.

Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An đã xử:

Về hôn nhân: công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị Ngọc Y và anh Hồ Viết T.

Về con chung: chị Lê Thị Ngọc Y được tiếp tục nuôi cháu Hồ Thị Yến N, sinh ngày 31/07/2023. Anh Hồ Viết T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ ngày 27/08/2024 đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Anh Hồ Viết T có quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ, chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: công nhận sự thỏa thuận giữa chị Lê Thị Ngọc Y với anh Hồ Viết T về phân chia tài sản như sau: anh Hồ Viết T được chia 30.000.000 đồng do anh T đang giữ; anh Hồ Viết T có nghĩa vụ chia lại cho chị Lê Thị Ngọc Y số tiền là 30.000.000 đồng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm trả, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, anh Hồ Viết T kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm về mức cấp dưỡng nuôi con chung. Anh chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Bị đơn anh Hồ Viết T kháng cáo cho rằng, do anh hiện nay cuộc sống khó khăn, thất nghiệp, thu nhập không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh, sửa một phần bản án sơ thẩm về mức cấp dưỡng nuôi con chung như trong đơn kháng cáo đã nêu.

Nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc Y đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa có ý kiến nhận xét về thủ tục giải quyết vụ án đã đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung tranh chấp: bà Lê Thị Ngọc Y với ông Hồ Viết T có một con chung tên Hồ Thị Yến N, sinh ngày 31/07/2023, hiện nay đang sống với bà Y. Bà Y yêu cầu sau khi ly hôn với ông T thì bà Y được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi con chung trưởng thành 18 tuổi (do ông T có nghề nghiệp thợ hồ và có tài sản là đất ruộng diện tích 19.524 m² tại ấp H, xã N, huyện T, tỉnh Long An). Ông T đồng ý giao con chung cho bà Y nuôi dưỡng và ông T chấp nhận cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con chung trưởng thành 18 tuổi (do ông T đang khó khăn, thất nghiệp, không đủ điều kiện cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 đồng).

Theo quy định tại Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bà Y trình bày tại phiên tòa sơ thẩm thì thu nhập của bà Y mỗi tháng khoảng 7.000.000 đồng, ông T trình bày đang thất nghiệp. Tuy nhiên, theo bà Y trình bày thì ông T có tài sản là đất ruộng diện tích 19.524 m² tại ấp H, xã N, huyện T, tỉnh Long An (thửa đất số 40, tờ bản đồ số 02; thửa đất số 301, 109, 133, 148, tờ bản đồ số 15).

Theo Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính Phủ quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì huyện T, tỉnh Long An thuộc vùng IV có mức lương tối thiểu vùng là 3.450.000 đồng/tháng.

Xét thấy, ông T có tài sản là đất ruộng diện tích 19.524 m² tại ấp H, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên ông Hồ Viết T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con chung tròn 18 tuổi là có cơ sở, phù hợp với mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ. Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Viết T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Đơn kháng cáo của anh Hồ Viết T thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thống nhất được về mức cấp dưỡng nuôi con chung, anh T kháng cáo đề nghị mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Y đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000 đồng đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Thấy rằng, việc cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn là nghĩa vụ của cha mẹ. Hiện tại, cháu Hồ Thị Yến N đang được chị Y trực tiếp nuôi dưỡng nên theo yêu cầu của chị Y, anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại khoản 2, điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”.

Tại khoản 1 Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”.

Đối với lý do của anh T cho rằng hiện nay thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn nên đề nghị xem xét mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi là thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại huyện T, tỉnh Long An. Mặt khác, cháu N đang trong độ tuổi cần được chăm sóc tốt về chế độ dinh dưỡng cũng như sinh hoạt để ổn định sự phát triển về thể chất cũng như tâm sinh lý của trẻ nhỏ, ngoài ra tương lai cháu N cần phải khoản tiền cấp dưỡng cho việc sinh hoạt, học tập nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng con chung mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đối với yêu cầu kháng cáo của anh T về thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

Thời gian cấp dưỡng theo Bản án sơ thẩm tính từ ngày 27/8/2024, các bên không kháng cáo, Viện Kiểm sát không kháng nghị nên xác định thời gian anh T cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày 27/8/2024 cho đến khi cháu Hồ Thị Yến N đủ 18 tuổi.

[3] Về án phí phúc thẩm: anh Hồ Viết T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Lời phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T, giữ nguyên bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về mức cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ.

[5] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Hồ Viết T;

Giữ nguyên bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.

Căn cứ các Điều 107, 110, 115, 116, 117, 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; các Điều 5, 28, 37, 39, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về cấp dưỡng nuôi con chung: buộc anh Hồ Viết T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Hồ Thị Yến N, sinh ngày 31/07/2023 với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng một tháng). Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 27/8/2024 cho đến khi cháu Hồ Thị Yến N đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con thực hiện theo quy định tại các Điều 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí phúc thẩm: anh Hồ Viết T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tạm ứng số 0003101 ngày 09/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An. Anh T đã nộp đủ tiền án phí.

3. Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - VKSND tỉnh Long An (1);
  • - TAND huyện Tân Thạnh (1);
  • - Chi cục THADS huyện Thạnh Hóa (1);
  • - Các đương sự (để thi hành) (2);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quốc Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-PT ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Ngọc Yến “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” Hồ Viết Thanh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger