Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-PT

Ngày 14 tháng 4 năm 2025

V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sơn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Thành và ông Nguyễn Xuân Trọng.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Loan, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2024/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 17/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Vĩnh H, sinh năm 1976; địa chỉ: TDP T, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

Bị đơn: Chị Trần Thị Kim T, sinh năm 1976; địa chỉ: TDP T, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị T: Chị Lê Thị H1, sinh năm 1990; địa chỉ: Số nhà A đường C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Trần Cao H2, sinh năm 1945 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1954; đều trú tại: TDP T, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, (đều có mặt).
  • - Anh Trần Cao H3, sinh năm 1995 và anh Trần Cao Thanh H4, sinh năm 2006; đều trú tại: TDP T, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, (đều có mặt).

Người kháng cáo: Chị TrầnThị Kim T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Trần Vĩnh H trình bày:

  • - Về tình cảm: Anh H và chị T1 xác nhận kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 17/5/1995. Sau khi kết hôn, vợ chồng thuê nhà rọ ở riêng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2020 vợ chồng anh H, chị T1 chuyển về ở và nhập khẩu vào hộ khẩu của gia đình ông H2, bà N (bố, mẹ anh H) tại TDP T, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Đến đầu năm 2023 vợ chồng anh H, chị T1 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là chị T1 không trung thủy, nhiều lần có quan hệ bất chính với người khác và bị Chủ tịch UBND huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đang có chồng mà chung sống với người khác”. Anh H đã bỏ qua nhiều lần nhưng chị T1 không thay đổi. Từ tháng 7/2023 đến nay mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng anh H với chị T1 sống ly thân, không quan tâm, không có trách nhiệm gì với nhau. Anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, anh H yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T1.
  • Bị đơn là chị Trần Thị Kim T đồng ý với lời trình bày của anh H về thời gian, thủ tục kết hôn như anh H trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau. Nay anh H yêu cầu ly hôn thì chị T đồng ý vì tình cảm vợ chồng không còn.
  • Về con chung: Anh H với chị T thống nhất có 02 con chung là Trần Cao H3, sinh ngày 20/8/1995 và Trần Cao Thanh H4, sinh ngày 12/7/2006; hiện nay Trần Cao H3 đã có gia đình riêng, cuộc sống riêng; còn Trần Cao Thanh H4 đã thành niên nên anh H, chị T không đề nghị Tòa án giải quyết.
  • Về tài sản chung:
    • - Theo anh H: Vợ chồng anh H, chị T có tài sản chung là 01 thửa đất số 488, tờ bản đồ 93 tại khu Đ, thị trấn H được Sở T3 cấp GCN ngày 31/8/2020 diện tích 50m² đứng tên ông Trần Vĩnh H và bà Trần Thị Kim T. Nguồn gốc thửa đất là vợ chồng anh H, chị T nhận chuyển nhượng của người khác. Anh H có quan điểm là vợ chồng đã thống nhất cho con trai Trần Cao H3 xây nhà ở riêng (chỉ thống nhất nói bằng miệng chưa làm thủ tục tặng cho, sang tên quyền sử dụng đất). Hiện nay Trần Cao H3 cùng vợ là Nguyễn Thị Giang H5 đã xây nhà kiên cố vào năm 2023 ở trên đất từ đó đến nay. Quan điểm anh H chia đôi thửa đất và anh H đề nghị nhận bằng đất để cho vợ chồng Huy H6 ở trên thửa đất này cùng anh và con Trần Cao Thanh H4, thanh toán cho chị T bằng tiền.
    • Đối với 01 ngôi nhà 3 tầng xây năm 2015 trên phần đất của ông Trần Cao H2, bà Nguyễn Thị N (bố, mẹ đẻ anh H) là tài sản của ông H2, bà N, vợ chồng anh H, chị T không có đóng góp tài chính gì đối với nhà đất này nên không liên quan. Vì khi ông H2, bà N xây dựng ngôi nhà từ năm 2015 thì lúc đó vợ chồng anh H, chị T chưa chuyển về sinh sống mà đang ở thuê bên ngoài, đến năm 2020 vợ chồng mới về chung sống cùng ông H2, bà N.
  • Theo chị T: Vợ chồng có tài sản chung là 01 ngôi nhà 3 tầng xây năm 2015 trên phần đất của ông Trần Cao H2, bà Nguyễn Thị N. Diện tích mỗi tầng là 120m² có địa chỉ tại TDP T, thị trấn H, huyện B. Toàn bộ chi phí xây nhà là do vợ chồng bỏ ra, ông H2 bà N chỉ nhận hộ nguyên vật liệu và trả tiền hộ. Việc xây nhà là do hai vợ chồng, anh H là người đứng ra mua nguyên vật liệu, trả tiền công thợ, lo liệu các việc khác liên quan đến việc xây nhà. Chị T không đưa tiền xây nhà cho anh H mà tiền của chị sử dụng vào việc chi tiêu, ăn uống, sinh hoạt của gia đình. Nguồn tiền xây nhà là do vợ chồng tích cóp được, việc anh H mua nguyên vật liệu, thuê thợ như thế nào chị không biết vì anh H không bàn bạc gì với chị. Tổng số tiền vợ chồng tích cóp được từ việc bán ruộng, bán đất là khoảng 400.000.000đ (gồm 160.000.000đ tiền bán đất ở + 224.000.000đ tiền bán đất ruộng của ông H2, bà N cho anh H và 16.000.000đ tiền bán đất ruộng của chị). Toàn bộ số tiền trên chị T đưa cho anh H.
  • Đối với thửa đất diện tích 50m² tại khu Đ, là thửa đất số 488, tờ bản đồ 93, GCN do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 31/8/2020. Thửa đất đứng tên ông Trần Vĩnh H và bà Trần Thị Kim T có nguồn gốc do vợ chồng nhận chuyển nhượng. Tiền mua đất do hai vợ chồng chị tích cóp. Quan điểm của chị T đề nghị chia cho chị T thửa đất này để chị lấy chỗ ở. Chị T đồng ý thanh toán tiền đất trả cho anh H và không đồng ý cho đất, không đồng ý cho con Trần Cao H3 xây nhà. Chị T đề nghị Trần Cao H3 tháo dỡ ngôi nhà để trả lại ½ diện tích đất cho chị. Chị T không đồng ý nhận tiền của anh H và cháu H3 trả tiền nhận đất.
  • Theo anh H: Đối với số tiền 400.000.000đ chị T trình bày anh không cầm, anh chỉ cầm 165.000.000đ từ tiền bán đất ở và cộng thêm tiền tích cóp của anh để mua thửa đất 50m² đã trình bày ở trên. Chị T không có đóng góp gì về việc mua thửa đất 50m² này; còn đối với số tiền 224.000.000đ là tiền bố mẹ anh bán ruộng đã cho riêng anh, không liên quan gì đến chị T. Anh H không nhận mà trả lại cho bố mẹ anh để xây nhà. Đối với số tiền 16.000.000đ tiền bán đất ruộng của chị T, anh không cầm. Đối với tiền bán ruộng là có nhưng ruộng bán là của ông H2 bà N, không phải của vợ chồng anh.
  • Về tài sản riêng: Hai bên xác nhận không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
  • Về công nợ: Theo anh H vợ chồng không nợ ai, không cho ai nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Theo chị T, năm 2010 vợ chồng chị đưa cho ông H2, bà N số tiền 320.000.000đ (chị trực tiếp đưa tiền cho bà N, khi đưa không có giấy tờ giao nhận tiền, lúc đó chỉ có ông H2 chứng kiến việc đưa tiền, ngoài ra không có ai khác). Nay chị T yêu cầu ông H2, bà N phải trả lại cho chị T kỉ phần của chị là 160.000.000đ.
  • Ngoài ra, anh H và chị T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết vấn đề gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Trần Cao H2 và bà Nguyễn Thị N: Về 01 ngôi nhà 3 tầng xây năm 2015 trên thửa đất của vợ chồng ông bà được cấp giấy chứng nhận do UBND huyện T cấp ngày 14/5/1994 đứng tên ông là Trần Cao H2. Do đó, anh H, chị T không liên quan gì đến thửa đất và ngôi nhà do ông bà tự xây dựng. Mọi chi phí xây ngôi nhà là của vợ chồng ông bà (chủ xây dựng là ông Nguyễn Văn B ở xã S, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; toàn bộ nguyên vật liệu xây dựng gồm gạch mua của nhà ông bà Nguyễn Thị V, Trần Mạnh T2 đều ở TDP T, thị trấn H; sắt thép mua tại cửa hàng V1 (bà Tạ Thị S; địa chỉ: TDP C, thị trấn H). Các giấy tờ liên quan đến mua bán nguyên vật liệu, trả tiền công xây dựng vợ chồng ông bà cung cấp cho Tòa án. Ông bà xây nhà năm 2015, khi đó vợ chồng anh H chị T không ở cùng nhà mà đi ở nhờ đến năm 2020 mới về nhập khẩu và ở cùng vợ chồng ông bà.
  • Quan điểm của ông H2, bà N xác định ngôi nhà 03 tầng trên là của ông bà xây dựng trên phần đất của vợ chồng ông bà, không phải là tài sản của anh H, chị T nên chị T không có quyền yêu cầu chia.
  • Đối với số tiền 320.000.000đ chị T trình bày đưa cho bà là không có. Ông H2 không được chứng kiến việc chị T đưa cho bà N tiền lần nào. Quan điểm của bà N không đồng ý trả cho chị T số tiền 160.000.000đ vì bà không cầm tiền.
  • Đối với diện tích đất 50m² anh H chị T trình bày ở trên là tài sản chung của anh H, chị T, ông bà không liên quan.
  • Đối với số tiền 224.000.000đ là tiền ông H2, bà N bán ruộng đã cho riêng anh H, không liên quan gì đến chị T. Tuy nhiên anh H không nhận và trả lại cho vợ chồng ông bà.
  • - Anh Trần Cao H3 trình bày: Anh là con đẻ của ông Trần Vĩnh H và bà Trần Thị Kim T. Do bố mẹ anh không còn tình cảm nên giải quyết ly hôn anh đồng ý bố mẹ ly hôn. Đối với yêu cầu chia tài sản của chị T (mẹ anh) là ngôi nhà 03 tầng xây trên đất của ông H2, bà N. Quan điểm của anh H3 là mẹ anh (bà T) trình bày như thế là không đúng vì anh thấy năm 2015 ông bà nội anh đứng ra xây nhà còn việc bố mẹ anh có đóng góp gì cho ông bà nội thì anh không nắm được; còn đối với tài sản là diện tích 50m² đất tại khu Đ đứng tên bố mẹ anh có nguồn gốc là bố mẹ anh mua thì vào khoảng tháng 7/2023 thì gia đình anh họp gồm có bố mẹ anh, anh, vợ anh là chị H6 và em trai là Trần Cao Thanh H4 đã thống nhất bố mẹ cho vợ chồng anh ra ở riêng trên đất này. Việc họp tất cả đều thống nhất bằng miệng chưa làm thủ tục sang tên cho vợ chồng anh. Vì bố mẹ anh tuyên bố cho vợ chồng anh trước sự chứng kiến của em trai nên vợ chồng anh đã xây dựng tạm căn nhà cấp 4 để ở; chị T (mẹ anh) cũng biết rõ việc vợ chồng anh xây nhưng không có ý kiến gì phản đối gì vì đã đồng ý cho vợ chồng anh. Nay mẹ anh đòi chia đôi tài sản này với bố anh và lấy lại đất. Quan điểm của anh, vợ anh, bố anh, em trai anh đều đề nghị Tòa án xem xét để mấy bố con anh được ở trên thửa đất này vì ông bà nội anh không cho mấy bố con anh ở nhờ nữa nên mấy bố con anh không có chỗ ở nào khác. Mặt khác, vợ chồng anh có con nhỏ sinh năm 2023 và em trai anh sinh năm 2006 vừa đỗ đại học nên bố anh phải chu cấp nuôi dưỡng ăn học mẹ anh không quan tâm gì nên thiết tha đề nghị

Tòa án giải quyết xem xét cho vợ chồng anh cùng bố anh và em trai anh lấy chỗ ăn ở sinh sống.

  • - Anh Trần Cao Thanh H4 trình bày: Nhất trí quan điểm của anh H3 vừa trình bày. Anh là con ông H, bà T. Anh cũng đồng ý bố mẹ giải quyết ly hôn. Đối với ngôi nhà 03 tầng xây trên đất của ông bà nội anh là của ông bà nội. Gia đình anh chỉ ở nhờ ông bà nội không cho; còn đối với thửa đất đứng tên bố mẹ anh diện tích 50m² có nguồn gốc của bố mẹ nhưng cả gia đình anh gồm có bố mẹ, vợ chồng anh trai và anh đã thống nhất cho vợ chồng anh trai anh ra ở riêng trên thửa đất này tôi cũng đồng ý vì bình thường gia đình tôi vẫn ở nhờ trên đất và nhà của ông bà nội cùng ông bà nội. Sau khi được gia đình cho vợ chồng anh trai tôi ra ở riêng trên đất và xây tạm căn nhà cấp 4, bố mẹ anh và anh đều biết nhưng không có ý kiến gì. Quan điểm của anh đề nghị xem xét cho mấy bố con anh được nhận thửa đất này vì hiện nay anh và bố anh đang ở nhờ ông bà nội nhưng ông bà tuyên bố không cho ở nhờ nữa nên anh và bố anh không có chỗ ở nào khác. Hơn nữa, anh đã 18 tuổi nhưng bố anh vẫn phải chu cấp tiền ăn học nên không có tiền mua đất làm nhà chỗ khác ở, vợ chồng anh trai có 01 cháu nhỏ hơn 1 tuổi cũng không có chỗ nào khác để ở. Vì vậy, anh tha thiết mong Tòa án xem xét cho mấy bố con anh thửa đất này để chung sống.

Với nội dung trên, Bản án hôn nhân và gia đình số: 15/2024/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 59, Điều 60, Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Trần Vĩnh H và chị Trần Thị Kim T.
  2. Về quan hệ tài sản:
    • - Giao cho anh Trần Vĩnh H được quyền sử dụng thửa đất số 488, tờ bản đồ 93, diện tích 50m² tại khu Đ, Cầu C, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc có trị giá là 400.000.000đ. (có sơ đồ hiện trạng chi tiết kèm theo). Anh Trần Vĩnh H có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hoàn thiện trình tự, thủ tục, đăng ký và cấp giấy chứng nhận diện tích đất theo quy định của pháp luật.
    • - Buộc anh Trần Vĩnh H phải thanh toán chênh lệch tài sản cho chị Trần Thị Kim T số tiền là 200.000.000đ.

Ngoài ra bản án còn quyết định tuyên về lãi suất đối với số tiền chậm trả, tuyên án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13 tháng 9 năm 2024, chị Trần Thị Kim T có đơn kháng cáo với nội dung: Không đồng ý quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chia công sức đóng góp bằng ¼ giá trị ngôi nhà ba tầng trên thửa đất đứng tên ông H2, bà N và đề nghị được sử dụng

thửa đất số 488, tờ bản đồ 93 là tài sản chung của vợ chồng thanh toán chênh lệch về tài sản cho anh H.

Tại phiên tòa phúc thẩm giữa chị Trần Thị Kim T với anh Trần Vĩnh H thỏa thuận: Anh Trần Vĩnh H được sử dụng thửa đất số 488, tờ bản đồ số 93, diện tích 50m² tại khu Đ, Cầu C, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Anh Trần Vĩnh H có nghĩa vụ thanh toán cho chị Trần Thị Kim T số tiền 350.000.000đ (cụ thể: thanh toán tại phiên tòa số tiền 200.000.000đ và số tiền 150.000.000đ thanh toán vào ngày 01/6/2025)

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 300; khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Công nhận sự thỏa thuận của chị Trần Thị Kim T với anh Trần Vĩnh H; sửa bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 15/2024/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng, quan điểm của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của chị Trần Thị Kim T trong hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét.
  2. [2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Trần Vĩnh H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, chia tài sản với chị Trần Thị Kim T. Hiện nay chị Trần Thị Kim T là bị đơn và anh H đều đang cư trú tại TDP T, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 38 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định đây là Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi xét xử sơ thẩm, chị Trần Thị Kim T kháng cáo và Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thụ lý, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là đúng về thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
  3. [3]. Về nội dung vụ án: Anh Trần Vĩnh H và chị Trần Thị Kim T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện B theo quy định của pháp luật đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, giữa anh H với chị T bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nay anh H và chị T đều xác định mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn; về con chung vợ chồng anh H chị T có 02 con chung là Trần Cao H3, sinh ngày 20/8/1995 và Trần Cao Thanh H4, sinh ngày 12/7/2006. Hiện nay hai con chung đã thành niên nên anh H, chị T không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung theo anh H thì vợ chồng chỉ có thửa đất số 488, tờ bản đồ 93, diện tích 50m² tại khu Đ, Cầu C, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; còn ngôi nhà 03 tầng xây dựng trên đất của ông H2, bà N là của ông H2, bà N (bố mẹ anh) xây dựng năm 2015, không liên quan gì đến vợ chồng anh H, chị T nên không đề nghị phân chia; còn theo chị T thì tài sản chung của vợ chồng bao gồm cả thửa đất số 488, tờ bản đồ
  1. số 93 tại khu Đ, thị trấn H, huyện B thì vợ chồng còn có tài sản chung là ngôi nhà 03 tầng xây dựng năm 2015 trên diện tích đất của ông H2, bà N và đề nghị được chia. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định thửa đất số 488, từ bản đồ số 93, diện tích 50m² tại khu Đ, thị trấn H, huyện B là tài sản chung của anh H, chị T để giao thửa đất cho anh H quản lý, sử sụng và buộc anh H thanh toán chênh lệch về tài sản cho chị T. Do không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, chị Trần Thị Kim T kháng cáo nội dung đề nghị được nhận thửa đất số 488, tờ bản đồ số 93 và thanh toán cho anh H bằng tiền theo quy định của pháp luật.
  1. Xét về nội dung kháng cáo của chị Trần Thị Kim T; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự không thống nhất và có những quan điểm khác khau về tài sản chung của vợ chồng. Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm quyết định thì chị T kháng cáo không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
    • - Đối với 01 ngôi nhà 3 tầng xây năm 2015 trên thửa đất của ông Trần Cao H2 và bà Nguyễn Thị N (là bố mẹ anh H) có địa chỉ Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo Chị T khai toàn bộ chi phí xây ngôi nhà là của vợ chồng chị, anh H chỉ là người đứng ra mua nguyên vật liệu, trả tiền công thợ và lo liệu các việc khác liên quan đến việc xây nhà; còn ông H2, bà N là bố mẹ chồng cho rằng anh H chỉ nhận hộ nguyên vật liệu và trả tiền giúp vợ chồng ông bà; Chị T cho rằng tổng số tiền tích cóp được từ việc bán ruộng, bán đất của hai vợ chồng là khoảng 400.000.000đ đã đưa cho anh H nhưng chị T không có tài liệu, căn cứ gì chứng minh việc đưa tiền cho anh H; còn theo anh H ngôi nhà 03 tầng là của ông H2 bà N (bố mẹ anh H) đứng ra xây trên đất của bố mẹ, vợ chồng anh không có đóng góp gì, không liên quan gì; phía ông H2, bà N khai việc xây nhà là do ông bà tự bỏ tiền ra xây, vợ chồng anh H, chị T không liên quan gì và không có đóng góp gì. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã lấy lời khai của ông Nguyễn Văn B là chủ xây dựng, lời khai của bà Nguyễn Thị V và bà Tạ Thị S là chủ bán vật liệu xây dựng đều xác định ông H2, bà N là người đứng ra thỏa thuận, trả tiền công thợ cũng như mua bán trả tiền mua vật liệu xây dựng cho chủ cửa bán. Chị T, anh H không liên quan và cũng không giao dịch mua bán gì; các con của anh H chị T cũng đều khẳng định ngôi nhà 03 tầng xây trên đất của ông H2 bà N là tài sản của ông bà nội, không phải là tài sản của anh H, chị T. Lời khai của các đương sự phù hợp với nhau, phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương thể hiện từ ngày 18/11/2020 vợ chồng anh H, chị T mới chuyển vào hộ khẩu và về sống chung với vợ chồng ông H2, bà N tại địa phương trong khi ngôi nhà ba tầng do ông H2, bà N xây dựng từ năm 2015. Do đó có đủ cơ sở xác định 01 ngôi nhà 03 tầng xây năm 2015 trên mảnh đất đứng tên ông Trần Cao H2, có địa chỉ tại TDP T, thị trấn H, huyện B do ông H2, bà N xây. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của chị T về việc phân chia đối với tài sản là ngôi nhà 03 tầng là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.
    • - Đối với thửa đất diện tích 50m² thửa đất số 488, tờ bản đồ 93, do Sở T3 cấp giấy chứng nhận ngày 31/8/2020 tại khu Đ, thị trấn H, huyện B thửa đất đứng tên ông Trần Vĩnh H và bà Trần Thị Kim T được các đương sự thừa nhận là tài

sản chung của vợ chồng anh H, chị T. Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là tài sản chung của vợ chồng anh H, chị T đưa ra phân chia cho hai người là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Qua xem xét thực tế thửa đất cũng như yêu cầu và nhu cầu sử dụng của các đương sự thì cả anh H và chị T đều có nguyện vọng được sử dụng thửa đất để ở, đồng ý thanh toán tiền cho phía bên kia bằng tiền. Xét thấy hiện nay cả anh H và chị T đều chưa có nơi ở nên nguyện vọng được chia tài sản bằng hiện vật của các đương sự là chính đáng. Tuy nhiên, thửa đất số 488, tờ bản đồ số 93, diện tích 50m² không thể chia cho cả hai người bằng hiện vật được mà chỉ chia được cho một người sử dụng và thanh toán giá trị bằng tiền cho người còn lại là phù hợp.

  1. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Trần Vĩnh H với chị Trần Thị Kim T thỏa thuận là anh Trần Vĩnh H được quyền sử dụng thửa đất số 488, tờ bản đồ số 93, diện tích 50m² đã được Sở Tài nguyên và môi trường cấp GCN ngày 31/8/2020 tại khu Đ, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Anh Trần Vĩnh H thanh toán cho chị Trần Thị Kim T tổng số tiền là 350.000.000đ. Anh Trần Vĩnh H đã thanh toán cho chị Trần Thị Kim T số tiền 200.000.000đ, số tiền 150.000.000đ còn lại anh H thanh toán cho chị T trước ngày 01/6/2025. Trường hợp quá hạn ngày 01/6/2025 anh Trần Vĩnh H không thanh toán cho chị T số tiền 150.000.000đ còn lại thì anh H phải chịu lãi xuất theo quy định của pháp luật. Cả anh Trần Vĩnh H và chị Trần Thị Kim T đều đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận này. Xét thấy việc thỏa thuận giữa anh Trần Vĩnh H với chị Trần Thị Kim T về nội dung anh Trần Vĩnh H được sử dụng tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng thửa đất 488, tờ bản đồ 93 tại khu Đ, thị trấn H, huyện B và anh H có nghĩa vụ thanh toán cho chị Trần Thị Kim T số tiền 350.000.000đ là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận là phù hợp.
  1. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận giữa anh Trần Vĩnh H với chị Trần Thị Kim T; sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Vĩnh H và chị Trần Thị Kim T phải chịu án phí tương ứng với giá trị tài sản nhận được. Cụ thể đó là:

    Tổng giá trị tài sản chung của vợ chồng có trị là 400.000.000đ, chị Trần Thị Kim T được chia tài sản có trị giá là 350.000.000đ nên số tiền án phí dân sự phải chịu là 17.500.000đ; anh Trần Vĩnh H được chia tài sản có trị giá là 50.000.000đ nên số tiền án phí dân sự phải chịu là 2.500.000đ.

    Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên chị Trần Thị Kim T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 300; khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Công nhận sự thỏa thuận giữa anh Trần Vĩnh H với chị Trần Thị Kim T; sửa bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên.

Căn cứ vào Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 59, Điều 60, Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Trần Vĩnh H với chị Trần Thị Kim T.
  2. Về quan hệ tài sản: Công nhận sự thỏa thuận giữa anh Trần Vĩnh H với chị Trần Thị Kim T như sau:
    • - Anh Trần Vĩnh H được quyền sử dụng thửa đất số 488, tờ bản đồ 93, diện tích 50m² tại khu Đ, Cầu C, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc có trị giá là 400.000.000 đồng đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T3 cấp giấy chứng nhận đứng tên ông Trần Vĩnh H và bà Trần Thị Kim T. (Có sơ đồ hiện trạng chi tiết kèm theo). Anh Trần Vĩnh H có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hoàn thiện trình tự, thủ tục, đăng ký và cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật.
    • - Anh Trần Vĩnh H có nghĩa vụ thanh toán cho chị Trần Thị Kim T số tiền 350.000.000 đồng. Xác nhận anh Trần Vĩnh H đã thanh toán cho chị Trần Thị Kim T số tiền 200.000.000 đồng; số tiền 150.000.000 đồng còn lại anh Trần Vĩnh H thanh toán cho chị Trần Thị Kim T trước ngày 01/6/2025.

    Kể từ ngày 01/6/2025 anh Trần Vĩnh H không thanh toán cho chị Trần Thị Kim T như thỏa thuận nếu chị Trần Thị Kim T có đơn yêu cầu thi hành án anh Trần Vĩnh H không thanh toán khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Kim T phải chịu 17.500.000 đồng, anh Trần Vĩnh H phải chịu 2.500.000 đồng. Chị Trần Thị Kim T đã nộp 19.500.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002258 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên, trả lại cho chị Trần Thị Kim T số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí.
  4. Án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Chị Trần Thị Kim T không phải chịu. Hoàn trả cho chị Trần Thị Kim T số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002543 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên.

Các quyết định khác của Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND huyện Bình Xuyên;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA; Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Duy Sơn

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Vĩnh H - Trần Thị Kim T "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger