Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ

Ngày 06/3/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU,

TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Quang Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Văn Nam và ông Nguyễn Văn Bảy

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Dương Thị Nhàn - Kiểm sát viên

Trong ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đông Triều xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số 197/2024/TLST- HNGĐ ngày 28/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07QĐXXST-HNGĐ ngày 24/02/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: chị Lê Thị H, sinh năm 1979; nơi cư trú: khu phố Y, phường Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

* Bị đơn: anh Nguyễn Đức L, sinh năm 1969; nơi cư trú: khu phố Y, phường Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh.Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nội dung vụ án theo như nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị H và anh Nguyễn Đức L tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã (nay là phường) Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh vào năm 1998. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau tại khu phố Y, phường Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh. Đến tháng 11 năm 2017 vợ chồng chuyển về sống tại khu X, phường Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh L thường xuyên không chịu lao động, chỉ ở nhà ham chơi cờ bạc. Anh L đã lấy tiền hàng, vay nợ những người thân quen nhiều lần và cắm ô tô để lấy tiền chơi bời để chị H phải trả nợ. Vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Mâu thuẫn của hai vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành, bản thân chị H đã nhiều lần tìm biện pháp hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Nay chị H xác định tình cảm dành cho anh Nguyễn Đức L không còn, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc. Vì vậy chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Nguyễn Đức L.

- Về con chung: vợ chồng có 03 con chung Nguyễn Thị Thu L1, sinh ngày 27/7/1999; Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 03/11/2000 và Nguyễn Phương A, sinh ngày 30/7/2014. Hiện tại cháu Nguyễn Thị Thu L1 và cháu Nguyễn Thanh H1 đã trưởng thành nên không đề nghị Toà án giải quyết. Chị H nhận trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Phương A cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung: tự thòa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có

- Về án phí: chị H tự nguyện nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

* Nội dung vụ án theo như bị đơn trình bày tại bản tự khai:

Về quan hệ hôn nhân: Anh L thừa nhận các trình bày của của chị H về quá trình kết hôn, quá trình chung sống và mậu thuẫn vợ chồng. Anh thừa nhận trong thời gian vừa qua do sức khỏe yếu nên anh không thể đi, ở nhà nhàn rỗi nên đã chơi bời cờ bạc. Tuy nhiên anh L vẫn mong muốn vợ chồng hoà giải và đoàn tụ với nhau. Nay, chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, quan điểm của anh L không đồng ý ly hôn với chị H.

- Về con chung: vợ chồng có 03 con chung Nguyễn Thị Thu L1, sinh ngày 27/7/1999; Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 03/11/2000 và Nguyễn Phương A, sinh ngày 30/7/2014. Hiện tại cháu Nguyễn Thị Thu L1 và cháu Nguyễn Thanh H1 đã thanh niên nên không đề nghị Toà án giải quyết. Nếu phải ly hôn anh L nhận trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Phương A cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng cho con.

Hiện tại vợ chồng đang làm công việc buôn bán hải sản, thu nhập khoảng 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng)/tháng.

- Về tài sản chung: không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có

- Về án phí: đồng ý để chị H nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự khi giải quyết vụ án, về quan điểm giải quyết vụ án đại diện Viện kiểm sát có quan điểm: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh L là trầm trọng nên đề nghị cho vợ chồng ly hôn. Giao con chung chưa thành niên cho chị H triếp tục nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, quan điểm trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng dân sự của vụ án: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có đương sự nào đề nghị hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, vì vậy phiên tòa hôm nay xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 241 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về nội dung vụ án:

[1] Về tình cảm: Hôn nhân giữa chị Lê Thị H và Nguyễn Đức L là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Cuộc sống chung vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H trình bày là do anh L chơi bời cờ bạc, lô đề dẫn thất thoát tài sản của gia đình, làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng đã được anh L thừa nhận, phù hợp với xác nhận của tổ dân khu phố, phù hợp với chứng cứ là giấy tờ cầm cố xe ô tô của anh L. Anh L trình bày tại bản tự khai và các buổi hòa giải là không đồng ý ly hôn vì còn tình cảm với chị H nhưng anh L không những không có hành động gì để lấy lại sự tin tưởng và tình cảm của chị H mà còn tiếp tục mắc lỗi tương tự dẫn đến việc tại phiên tòa hôm nay chị H vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn. Từ đó thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhận không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn với anh L để cả hai ổn định cuộc sống.

[2] Về con chung: vợ chồng có 03 con chung Nguyễn Thị Thu L1, sinh ngày 27/7/1999; Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 03/11/2000 và Nguyễn Phương A, sinh ngày 30/7/2014. Hiện tại cháu Nguyễn Thị Thu L1 và cháu Nguyễn Thanh H1 đã thanh niên, có cuộc sống riềng nên không xem xét. Đối với cháu Nguyễn Phương A còn chưa thành niên, cả chị H và anh L đều có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu. Hiện tại vợ chồng đang làm công việc buôn bán hải sản, thu nhập khoảng 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng)/tháng, tuy nhiên toàn bộ công việc hiện do một mình chị H gánh vác nên chị H có điều kiện tốt hơn để nuôi dưỡng con chung. Mặt khác cháu Phương A là con gái, đang tuổi phát triển nên cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Vì thế giao cháu cho chị H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng sẽ đảm bảo cho cuộc sống và sự phát triển của cháu tốt hơn. Chị H không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

[3] Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét vấn đề tài sản chung.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 241, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị H với anh Nguyễn Đức L.

Giao con chung Nguyễn Phương A, sinh ngày 30/7/2014 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi., anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về án phí: Chị Lê Thị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003733, ngày 23/11/2024 của chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Triều.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKS ND tỉnh QN;
  • - VKSND TP Đông Triều
  • - Chi cục THA TP Đông Triều;
  • - UBND phường Yên Đức
  • - Các đương sự
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Quang Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân gia đình giữa chị Lê Thị H và Nguyễn Đức L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger