Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HC-ST

Ngày: 27/5/2025

“v/v khiếu kiện quyết định hành chính”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Kim Hồng

Ông Nguyễn Đức Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường xét xử số 3, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 03/2025/TLST - HC ngày 22 tháng 01 năm 2025, về việc “Khiếu kiện Quyết định hành chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HC ngày 24 tháng 4 năm 2025, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 56/2025/TB - TA ngày 06 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Ông Bùi Hữu C, sinh năm 1953; Địa chỉ: Đ, thôn M, xã L (nay là xã L), huyện K, tỉnh Hải Dương (có mặt).
  2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương.

    Địa chỉ trụ sở: Thị trấn K, huyện K, tỉnh Hải Dương.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang H - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu H1 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương (có mặt).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Tăng Thị T, sinh năm 1955; Địa chỉ: Đ, thôn Q, xã L (nay là xã L), huyện K, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Bùi Hữu C trình bày:

Ông đề nghị Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số CH00925 do Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện K cấp ngày 26/05/2020 cho bà Tăng Thị T diện tích 584m² đất ở lâu dài tại thửa số 62 tờ bản đồ số 3, địa chỉ thửa đất: thôn Q, xã L, huyện K tỉnh Hải Dương.

Lý do ông đề nghị hủy GCNQSDĐ của bà T như sau:

Nguồn gốc thửa đất trên là của ông nội ông cho bố ông là Bùi Hữu Đ. Năm 1977, bố ông cho 3 anh em ông là: Bùi Hữu Đ1 (đã mất) thửa số 56 có diện tích 520m², Bùi Hữu L thửa số 55 có diện tích 571 m² và ông thửa số 57 có diện tích 558 m² (các thửa đất trên được thể hiện theo sổ mục kê năm 1993). Sau đó, ông kết hôn với bà T và vợ chồng ông sinh sống tại thửa đất trên. Do vợ chồng chung sống không hạnh phúc nên năm 1985 ông và bà T đã làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Kim Thành. Sau khi ly hôn ông đi chỗ khác ở, bà T vẫn ở tại thửa đất trên. Vì thửa đất trên là của ông cha không phải là tài sản của vợ chồng ông nên khi ly hôn ông và bà T không thỏa thuận về đất mà chỉ thỏa thuận phân chia các công trình trên đất và các tài sản khác của vợ chồng. Do ông đi xa nên ông chưa làm thủ tục cấp GCNQSDĐ. Năm 2024, ông làm thủ tục tách đất cho con trai thì mới biết thửa đất trên bà T đã được UBND huyện K cấp GCNQSDĐ lần đầu vào năm 2003 và cấp đổi GCNQSDĐ vào năm 2020. Sau khi biết bà T được cấp GCNQSDĐ ông đã có đơn đề nghị UBND xã L giải quyết và UBND xã L đã hướng dẫn ông khởi kiện đến Tòa án.

* Người bị kiện trình bày:

Sau khi nhận được văn bản của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, UBND huyện K đã yêu cầu các cơ quan chuyên môn tiến hành kiểm tra hồ sơ lưu trữ tại huyện. Tuy nhiên, qua nhiều lần tìm kiếm, hiện nay vẫn chưa tìm thấy hồ sơ lưu trữ về việc cấp GCNQSDĐ cho bà T đối với thửa đất số 62 tờ bản đồ số 03 diện tích 584 m² tại thôn Q, xã L (nay là xã L). Vì vậy, UBND huyện K đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Tăng Thị T, trình bày:

Trước đây bà và ông Bùi Hữu C là vợ chồng. Do quá trình chung sống vợ chồng không hòa thuận nên năm 1985 bà và ông C đã làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Kim Thành. Khi ly hôn bà và ông C thỏa thuận: ông C lấy 01 xe máy, 01 máy xát gạo, còn nhà và vườn cho mẹ con bà. Nguồn gốc thửa đất trên là của bố mẹ ông C để lại cho vợ chồng bà. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sinh sống trên thửa đất đó. Sau khi ly hôn, ông C chuyển đi chỗ khác ở, còn bà và các con ở lại trên thửa đất đó, năm 2003 bà được cấp GCNQSDĐ lần đầu, năm 2020 bà đã được cấp đổi GCNQSDĐ. Nay ông C đề nghị Tòa án hủy GCNQSDĐ trên của bà, bà không nhất trí. Bà xác định khi ly hôn, bà và ông C đã thỏa thuận với nhau nên từ năm 1985 nhà nước đã để tên bà tại sổ mục kê năm 1985, sổ mục kê năm 1993. Từ năm 1985 đến nay bà vẫn quản lý, sử dụng thửa đất và đóng thuế đầy đủ, không có tranh chấp gì.

* Kết quả xác minh tại UBND xã L thể hiện:

  • Về nguồn gốc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 3, diện tích 584m² tại thôn Q, xã L, huyện K là của ông cha ông C để lại nhưng địa phương không có tài liệu lưu trữ thể hiện. Tại địa phương chỉ lưu trữ sổ đăng ký ruộng đất do xã L, huyện K (nay huyện K) lập năm 1985, thể hiện tại trang 15, số thứ tự 48, tờ bản đồ số 1, chủ sử dụng đất là Bùi Thị T1, diện tích 513m², loại ruộng đất T55; Sổ mục kê năm 1993 thể hiện thửa 57, tờ bản đồ số 6, chủ sử dụng là T1, diện tích 558m², loại đất T; Hồ sơ cấp GCNQSDĐ năm 2003: Bà T1 được cấp GCNQSDĐ đại trà. Tại trang 60, sổ địa chính xã ngày 01/6/2004 thể hiện: Ngày 16/9/2003, bà Tăng Thị T được cấp GCNQSDĐ tại thửa đất số 57, tờ bản đồ số 6, diện tích 558m², trong đó: 300m² đất ở lâu dài, 142m² đất trồng cây hàng năm (thời hạn 15/10/2013), 116 m² vườn thừa vượt mức quy định đất ở (thời hạn lâu dài). Theo Quyết định số 488-QĐ/UB ngày 16/9/2003. Ngày 26/5/2020, bà T được cấp đổi GCNQSDĐ.
  • Về hồ sơ giải quyết đơn của ông C: Ngày 04/3/2024, ông C có đơn đề nghị UBND xã L giải quyết tranh chấp đất đai với bà T. Sau khi nhận được đơn của ông C, UBND xã đã nhiều lần mời bà T lên làm việc nhưng bà T không lên. Ngày 05/4/2024, UBND xã đã có Thông báo số 42 thông báo cho ông C về kết quả giải quyết đơn của ông C.
  • UBND xã cung cấp cho Tòa án các tài liệu là các trang sổ có liên quan đến thửa đất: Sổ mục kê năm 1985; Bản đồ đo đạc năm 1985; Sổ mục kê năm 1993; Bản đồ đo đạc năm 1993; T2 cấp GCNQSDĐ năm 2003; T2 cấp đổi GCNQSDĐ năm 2020; Hồ sơ kỹ thuật thửa đất năm 2010; Biên bản làm việc ngày 13/3/2024; Biên bản làm việc ngày 28/3/2024 và ngày 01/4/2024; Thông báo kết quả hòa giải số 42 ngày 05/4/2024, Đơn đề nghị của ông C đề ngày 04/3/2024, Trích lục ly hôn gia đình ngày 04/3/2024 của TAND huyện Kim Thành.

* Kết quả xác minh tại Tòa án nhân dân huyện Kim Thành:

Ngày 01/11/1985, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn: ông Bùi Hữu C và bị đơn: bà Tăng Thị T. Nội dung giải quyết ba mối quan hệ: Vợ chồng, con chung, tài sản chung. Tuy nhiên, không tìm thấy hồ sơ. Tại sổ thụ lý và theo dõi kết quả thụ lý và giải quyết án dân sự năm 1985 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành thể hiện: Về quan hệ vợ chồng: CNTTLH 3/12/1985; Con chung: Công nhận sự thỏa thuận của 2 bên: anh C trực tiếp nuôi cháu T3, chị T trực tiếp nuôi 2 cháu L1 và Úy mỗi tháng anh góp phí tổn nuôi con chung 5đ00 từ tháng 11/1985 đến khi con tự lập; Về tài sản chung: Anh C sở hữu xe máy 67, 01 nhà 2 gian, 01 giường đôi, 01 màn, 01 phích, 01 chăn bông, 01 xe đạp. Chị Tân sở H2 01 gian nhà trên phía buồng, 01 nhà bếp, 01 chuồng lợn đều xây, 01 bờ ao + 1 bờ lũy xây, 1 hòm đựng thóc + 1 giường đôi, 1 gường đôi, 1 chăn bông, 1 màn và những dụng cụ sinh hoạt tỏng gia đình. Chấp nhận thỏa thuận của đôi bên đương sự là 2 gian nhà còn lại cho cháu T3; Về án phí: Mỗi người phải nộp 1,5đ00 án phí sơ thẩm ly hôn.

Tại phiên tòa:

Người khởi kiện: Ông Bùi Hữu C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Người bị kiện: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh hải Dương giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật và chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân và các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Về quan điểm giải quyết: Căn cứ Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; Luật đất đai năm 2003; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Hữu C: Huỷ GCNQSDĐ số 564 ngày 16/9/2003 và GCNQSDĐ số CH00925 ngày 26/5/2020 do UBND huyện K, tỉnh Hải Dương đã cấp cho bà Tăng Thị T đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 3, diện tích 584 m², địa chỉ: Thôn Q, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương.
  • Về án phí: UBND huyện K phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Ông Bùi Hữu C khởi kiện yêu cầu hủy GCNQSDĐ, đây là quyết định hành chính của UBND cấp huyện trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai. Căn cứ khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

[1.2]. Về thời hiệu khởi kiện:

Năm 2024, ông C mới biết thửa đất số 62, tờ bản đồ số 3, diện tích 584m² tại thôn Q, xã L, huyện K đã được UBND huyện K cấp lần đầu cho bà T vào năm 2003, cấp đổi cho bà T vào năm 2020. Sau khi biết bà T được cấp GCNQSDĐ ông C đã có đơn đề nghị xã L giải quyết, UBND xã đã báo bà T đến làm việc nhưng bà T không đến. Do vậy, không hòa giải được. Ngày 05/4/2024, UBND xã L đã có Thông báo số 42/TB-UBND hướng dẫn ông C khởi kiện đến Tòa án. Ngày 20/01/2025, ông C khởi kiện và ngày 22/01/2025, Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của ông Cầu L2 còn thời hiệu theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

[1.3]. Tại phiên tòa, bà Tăng Thị T vắng mặt, có đề nghị xin xét xử vắng mặt, do vậy căn cứ Điều 157, Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vắng mặt bà Tăng Thị T.

[2]. Về nội dung vụ án:

Bà T được cấp GCNQSDĐ lần đầu vào năm 2003 và được cấp đổi lại năm 2020. Ông C đề nghị Tòa án hủy GCNQSDĐ của bà T được UBND huyện K cấp đổi năm 2020. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy để đánh giá tính hợp pháp của GCNQSDĐ năm 2020 của bà T thì phải đánh giá tính hợp pháp của GCNQSDĐ năm 2003 do UBND huyện K cấp lần đâu cho bà Tăng Thị T:

- Về thẩm quyền ban hành: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật đất đai năm 2003, UBND huyện K cấp GCNQSDĐ cho bà Tăng Thị T là đúng thẩm quyền.

- Về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ :

UBND huyện K và UBND xã L không còn lưu trữ được hồ sơ cấp GCNQSDĐ lần đầu năm 2003 cho bà T. Tuy nhiên, UBND xã L xác định năm 2003, bà T được cấp GCNQSDĐ đại trà và UBND xã còn lưu sổ theo dõi cấp GCNQSDĐ. Tại trang 60 Sổ địa chính xã lập ngày 01/5/2004, thể hiện: Chủ sử dụng đất là bà Tăng Thị T được cấp GCNQSDĐ tại thửa số 57, tờ bản đồ số 06 diện tích 558 m² trong đó: 300m² đất ở (thời hạn sử dụng lâu dài), 142m² đất trồng cây hàng năm (thời hạn sử dụng 15/10/2013), 116 m² vườn thừa vượt quy định hạn mức đất ở (thời hạn sử dụng lâu dài). Căn cứ pháp lý: QĐ 488-QĐUB ngày 16/9/2003; vào số GCN số 564. Như vậy, hồ sơ cấp GCNQSDĐ không đảm bảo các tài liệu theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Xem xét về nguồn gốc, diện tích thửa đất bà T được cấp GCNQSDĐ thì thấy:

Ông C và bà T đều xác định thửa số 57, tờ bản đồ số 06 diện tích 558 m² là của bố mẹ ông C. Sau khi kết hôn, ông C và bà T ở tại thửa đất đó đến năm 1985 thì ông bà ly hôn. Theo ông C, do đất là của cha ông nên vợ chồng chỉ thỏa thuận về tài sản, không thỏa thuận về đất; bà T xác định vợ chồng thỏa thuận toàn bộ thửa đất giao cho bà.

Xét ý kiến trình bày của ông C và bà T, Hội đồng xét xử thấy: Lời trình bày của ông C và bà T về nguồn gốc thửa đất là của bố mẹ ông C phù hợp với ý kiến trình bày của UBND xã L (nay là xã L). Ông C xác định bố mẹ ông đã cho ông nên là tài sản riêng của ông. Năm 1985, khi ly hôn vợ chồng không đề nghị Tòa án án chia đất mà chỉ chia các công trình trên đất và các vật dụng trong nhà. Tòa án nhân dân huyện Kim Thành không lưu giữ hồ sơ giải quyết ly hôn giữa ông C và bà T mà chỉ lưu giữ được sổ kết quả. Ông C và bà T không lưu giữ được Quyết định của Tòa án. Theo sổ theo dõi kết quả của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành thì khi ly hôn ông C và bà T có thỏa thuận về phân chia tài sản là nhà, tuy nhiên theo quyết định không ghi cụ thể công trình các bên thỏa thuận chia trên diện tích đất là bao nhiêu. Hồ sơ do UBND xã L (nay là L) lưu giữ thể hiện tại sổ mục kê năm 1985, năm 1993 ghi tên bà T. Theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 thì vợ chồng đều quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới nên xác định thửa đất bố mẹ ông C cho ông Cầu là tài sản chung của vợ chồng. Khi ly hôn ông C và bà T đã thỏa thuận phân chia các công trình là nhà gắn liền với đất. Các tài liệu do UBND xã L cung cấp thì không có tài liệu nào thể hiện ông C đã tặng cho thửa đất trên cho bà T.

Từ những phân tích đánh giá nêu, Hội đồng xét xử thấy việc UBND huyện K cấp GCNQSDĐ lần đầu cho bà T năm 2003 đã không xem xét đến nguồn gốc đất là không đúng quy định của pháp luật.

Do việc UBND huyện K cấp GCNQSDĐ lần đầu cho bà T năm 2003 là không đúng nên ngày 26/5/2020 UBND huyện K cấp đổi GCNQSDĐ cho bà T là không đúng quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Bùi Hữu C.

[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông C được chấp nhận nên UBND huyện K phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 30, khoản 4 Điều 32, khoản 1 Điều 115, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 348, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính; Luật đất đai năm 2003; Luật HN&GĐ năm 1959; Luật phí, lệ phí của Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Hữu C: Huỷ GCNQSDĐ số 564 ngày 16/9/2003 và GCNQSDĐ số CH00925 ngày 26/5/2020 do UBND huyện K, tỉnh Hải Dương đã cấp cho bà Tăng Thị T đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 3, diện tích 584 m², địa chỉ: Thôn Q, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương.
  2. Về án phí: UBND huyện K phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, ông C, UBND huyện K có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HC-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về khiếu kiện quyết định hành chính

  • Số bản án: 06/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định hành chính
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy GCNQSD đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger