|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2025/HC-ST
Ngày 16-6-2025
V/v Khiếu kiện quyết định hành chính.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Huỳnh Đắc Đương |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Hồng Bốn |
| Bà Diệp Huyền Thảo |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Nang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2024/TLST-HC ngày 13 tháng 12 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXXST-HC ngày 03 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Sơn T, sinh năm 1966; địa chỉ Khóm F, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Sơn T: Ông Viên Anh T1, sinh năm 1970, địa chỉ ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 28 tháng 6 năm 2023) (có mặt).
- Người bị kiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T, địa chỉ số D đường M, Khóm C, Phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T, địa chỉ số H đường L, Khóm D, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện theo ủy quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (Nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T): Bà Nguyễn Thị Diệu T2 - Phó Giám đốc (theo văn bản ủy quyền số 1778/SNNMT-VP ngày 05 tháng 6 năm 2025) (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trương Thị Thanh T3, sinh năm 1964; địa chỉ Khóm A, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Ông Đồng Công N, sinh năm 1963; địa chỉ Khóm A, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).
- Ông Đồng Trung N1, sinh năm 1988; địa chỉ Khóm A, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị Thanh T3: Ông Trần Kiến Q, sinh năm 1984; địa chỉ ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 05 tháng 3 năm 2025) (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 6 năm 2023 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 02 tháng 8 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện ông Viên Anh T1 là người đại diện theo ủy quyền của ông Sơn T trình bày: Vào năm 2005 ông Sơn T có dùng tài sản là quyền sử dụng đất thửa 941, tờ bản đồ số 01, diện tích 792m², đất tọa lạc Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh để vay vốn tại Ngân hàng N2 chi nhánh S thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Đến năm 2022 ông Sơn T đã trả xong cho Ngân hàng nên được trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vào ngày 29 tháng 7 năm 2022 ông Sơn T đến Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T để làm thủ tục xin cấp đổi quyền sử dụng đất thì được Văn phòng đăng ký đất đai cho biết thửa đất của ông Sơn T đã được cấp mới cho bà Trương Thị Thanh T3 trú tại Khóm A, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh theo Thông báo số 1087/TB-CNTPTV ngày 04 tháng 9 năm 2022 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Phần thửa đất 941, tờ bản đồ số 01, diện tích 792m², đất tọa lạc Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh do ông Sơn T đang sử dụng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T lại cấp chồng lấn phần diện tích đất của ông Sơn T vào diện tích đất của bà Trương Thị Thanh T3 thửa đất số 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m², đất tọa lạc Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Nay ông Sơn T yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh do bà Trương Thị Thanh T3 đứng tên, số CĐ 703233 vào sổ cấp GCN CS05219 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 11 tháng 7 năm 2016.
Người bị kiện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T) trình bày ý kiến như sau: Tại Công văn số 938/SNNMT-VPĐKĐĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T đã nêu: “... Căn cứ các nội dung và quy định nêu trên, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ bà Trương Thị Thanh T3 đối với thửa 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m², số phát hành CĐ 703233 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 11 tháng 7 năm 2016 chưa đúng diện tích theo quy định. Tuy nhiên, việc hủy Giấy chứng nhận của hộ bà Trương Thị Thanh T3 rất khó khăn phức tạp do hộ bà Trương Thị Thanh T3 đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính phần diện tích tăng, hiện trạng hộ bà Trương Thị Thanh T3 đang sử dụng...”.
Về nội dung ông Sơn T yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 230, tờ bản đồ 76, diện tích 2617,3m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh do bà Trương Thị Thanh T3 đứng tên, số CĐ 703323 vào sổ cấp GCN CS05219 cấp ngày 11 tháng 7 năm 2016, Sở Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Tòa án xem xét trong quá trình giải quyết vụ án theo thẩm quyền.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Thanh T3 do người đại diện theo ủy quyền ông Trần Kiến Q trình bày: Phần đất thửa 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh do bà Trương Thị Thanh T3 đang đứng tên có nguồn gốc là bà T3 nhận chuyển nhượng từ bà Trần Thị Ú vào năm 1999. Từ khi nhận chuyển nhượng bà T3 sử dụng lâu dài, ổn định cho đến nay không ai phản đối hay tranh chấp. Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông Sơn T về việc yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh do bà Trương Thị Thanh T3 đứng tên, số CĐ 703233 vào sổ cấp GCN CS05219 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 11 tháng 7 năm 2016 thì bà Trương Thị Thanh T3 không đồng ý.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đồng Công N và ông Đồng Trung N1 vắng mặt, có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt và có ý kiến thống nhất theo yêu cầu của bà Trương Thị Thanh T3.
Tại phiên tòa sơ thẩm người khởi kiện vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, người bị kiện xin xét xử vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng hành chính của Thẩm phán. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Luật Tố tụng hành chính và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Về tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định Luật Tố tụng hành chính về trình tự, thủ tục phiên tòa sơ thẩm.
Về tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Người khởi kiện, người bị kiện, người tham gia tố tụng khác đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung vụ kiện: Nhận thấy thửa đất 941, tờ bản đồ số 01, diện tích 792m², đất tọa lạc Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp Giấy chứng nhận vào năm 2002 (trước đây xã Đ, huyện C) cho hộ ông Sơn T. Theo Công văn số 221/BC-CNTPTV ngày 13 tháng 12 năm 2021 của Văn phòng Đ chi nhánh thành phố T xác định: Năm 1999 hộ bà Trương Thị Thanh T3 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 941B diện tích 2.503m² và thửa 942B, diện tích 988m², cùng tờ bản đồ số 1 và cùng tọa lạc địa chỉ xã Đ, huyện C. Ngày 27 tháng 7 năm 2011 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trích lục số 661/TL-BĐ đối với thửa đất số 21 của bà Trương Thị Thanh T3 có diện tích 4.180,7m², tăng 689,7m² nhằm trọn thửa 941B, 942B theo tư liệu năm 1991. Sau đó ngày 01 tháng 8 năm 2011 bà Trương Thị Thanh T3 tách thửa 21 ra làm nhiều thửa, trong đó có thửa 230 diện tích 2.617,3m². Về hiện trạng thửa đất 230 đã cấp cho hộ bà Trương Thị Thanh T3 trùng vị trí thửa đất số 941 (tư liệu năm 1991) diện tích 792m² của hộ ông Sơn T. Theo kết quả thẩm định, đo đạc tại Công văn số 312/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 19 tháng 5 năm 2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T xác định phần đất tranh chấp có phần B1 diện tích 788m² và phần C2 diện tích 3,9m² thuộc một phần thửa 230 hiện nay, theo tài liệu đo đạc năm 1991 thuộc thửa 941, tờ bản đồ số 1 của hộ ông Sơn T. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T cũng có Công văn số 938/SNNMT-VPĐKĐĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 xác định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ bà Trương Thị Thanh T3 đối với thửa 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m² là chưa đúng diện tích theo quy định.
Từ những cơ sở nêu trên xác định việc ông Sơn T khởi kiện là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Sơn T, tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m² đất tọa lạc tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh mà Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T đã cấp cho hộ bà Trương Thị Thanh T3. Hộ ông Sơn T và hộ bà Trương Thị Thanh T3 có nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của các đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về đối tượng và thẩm quyền giải quyết: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T) cấp cho bà Trương Thị Thanh T3 ngày 11 tháng 7 năm 2016 là quyết định hành chính. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 3, khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
[2] Về quyền khởi kiện và thời hiệu khởi kiện: Ông Sơn T khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 703233 đối với thửa đất số 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho bà Trương Thị Thanh T3 vào ngày 11 tháng 7 năm 2016. Vào năm 2005 ông Sơn T có dùng tài sản là quyền sử dụng đất thửa 941, tờ bản đồ số 1, diện tích 792m², đất tọa lạc Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh để thế chấp vay vốn tại Ngân hàng N2 - Chi nhánh số 01 thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Đến năm 2022, ông Sơn T đã trả xong cho Ngân hàng nên được nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến ngày 29 tháng 7 năm 2022 ông Sơn T đến Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Trà Vinh để làm thủ tục xin cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được Văn phòng đăng ký đất đai cho biết thửa đất của ông Sơn T đã được cấp mới cho bà Trương Thị Thanh T3 trú tại Khóm A, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh theo Thông báo ngày 04 tháng 9 năm 2022 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, việc cấp đổi cho bà Trương Thị Thanh T3 đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Sơn T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 115, khoản 3 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì ông Sơn T là người có quyền khởi kiện và yêu cầu ông Sơn T vẫn còn thời hiệu khởi kiện.
[3] Về phạm vi yêu cầu khởi kiện: Ông Sơn T khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 703233, đối với thửa đất số 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T) cấp cho bà Trương Thị Thanh T3 vào ngày 11 tháng 7 năm 2016.
[4] Về hình thức và thủ tục ban hành quyết định: Năm 1999 hộ bà Trương Thị Thanh T3 được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 941B, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.503m² , loại đất LN và thửa 942B, tờ bản đồ số 1, diện tích 988m², loại đất trồng cây lâu năm cùng tọa lạc xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh). Ngày 06 tháng 7 năm 2011 bà Trương Thị Thanh T3 làm đơn xin tách thửa đất, hợp thửa đất của thửa đất 941B và 942B, tờ bản đồ số 1, đất tọa lạc tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Ngày 27 tháng 7 năm 2011 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trích lục số 661/TL-BĐ đối với thửa đất số 21, tờ bản đồ số 76, diện tích 4.180,7m², loại đất trồng cây lâu năm (thửa đất số 21 diện tích tăng thêm 689,7m² nằm trọn thửa 941B và thửa 942B, tờ bản đồ số 1, theo tư liệu năm 1992). Ngày 01 tháng 8 năm 2011 bà Trương Thị Thanh T3 thực hiện tách thửa đất đối với thửa đất nêu trên thành thửa 151, tờ bản đồ số 76, diện tích 1.073,1m², loại đất CLN và thửa số 21, tờ bản đồ số 76, diện tích 3.107,6m², loại đất CLN. Ngày 04 tháng 7 năm 2016 thửa đất số 21 được tách thành hai thửa là thửa 229, tờ bản đồ số 76, diện tích 432,4m² và thửa 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m² nên việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do thực hiện biến động lần hai là thuộc thẩm quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (Nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T).
[5] Về nội dung thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Xét thấy vào năm 1997 bà Trương Thị Thanh T3 có thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Trần Thị Ú, sinh năm 1942 diện tích 2.503m² chiết thửa 941 loại đất T-LNK, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là Phường I, thành phố T). Sau khi chuyển nhượng thì các bên làm thủ tục theo quy định của pháp luật nên ngày 09 tháng 9 năm 1999 Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Trương Thị Thanh T3 (BL 175) thửa đất 941B, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.503m², loại đất LN, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Đồng thời Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 942B, tờ bản đồ số 1, diện tích 988m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh). Tuy nhiên ngày 27 tháng 7 năm 2011 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có cấp trích lục số 661/TL-BĐ đối với thửa đất số 21, tờ bản đồ số 76, diện tích 4.180,7m², loại đất trồng cây lâu năm, diện tích thửa đất số 21 tăng thêm 689,7m² nằm trọn trong thửa 941B và 942B tờ bản đồ số 1 (theo tài liệu năm 1992). Phần diện tích tăng thêm này cơ quan chuyên môn chưa làm rõ thuộc quyền sử dụng của ai, có thực hiện biến động hay không mà lại lập thủ tục để bà Trương Thị Thanh T3 nộp lệ phí trước bạ nhà đất đối với diện tích 689,7m² là chưa có căn cứ, không phù hợp với quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ kiện, bà Trương Thị Thanh T3 có nộp tài liệu chứng cứ là “tờ cam kết” ngày 26 tháng 6 năm 2006 (BL146), theo nội dung của tờ cam kết thì ông Sơn T và bà Thạch Thị Túy H có cam kết trước đây bà Trần Thị Ú “có bán phần đất nguyên một cái hồ đã lấy rồi” để xác định phần đất tăng thêm là phần đất ao và bà Trần Thị Ú đã bán cho bà Trương Thị Thanh T3, đồng thời bà Trương Thị Thanh T3 cũng có cung cấp một giấy biên nhận ngày 19 tháng 11 năm 1999 (BL147) thể hiện nội dung “Nay bên mua đã đưa đủ cho bên bán tổng số tiền là 3.520.000 đồng (Ba triệu năm trăm hai chục ngàn đồng) người bán là bà Trần Thị Ú để chứng minh rằng phần đất trên bà Trần Thị Ú đã bán cho bà Trương Thị Thanh T3 và bà T3 có trả đủ tiền cho bà Trần Thị Ú nên cơ quan chuyên môn cấp giấy cho hộ bà Trương Thị Thanh T3 là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ vào “tờ cam kết” và giấy “biên nhận” này không xác định được diện tích chuyển nhượng cụ thể là bao nhiêu, phần đất này thuộc tờ bản đồ số mấy, thửa đất là bao nhiêu nên lời trình bày này không có căn cứ để chấp nhận.
Mặt khác, cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m² cho bà Trương Thị Thanh T3 cũng xác định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Trương Thị Thanh T3 thửa số 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m² có số phát hành CĐ 703233 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 11 tháng 7 năm 2016 chưa đúng diện tích theo quy định.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Sơn T là có căn cứ chấp nhận, đề nghị của đại diện Viện sát nhân tỉnh Trà Vinh là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ kiện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Sơn T, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa số 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh có số phát hành CĐ 703233 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T) cấp cho hộ bà Trương Thị Thanh T3 ngày 11 tháng 7 năm 2016.
[6] Về án phí và chi phí tố tụng.
Về án phí hành chính sơ thẩm: Buộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T) phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm. Ông Sơn T không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Về chi phí thẩm định tài sản là 2.904.000 đồng, ông Sơn T đồng ý chịu chi phí này và ông đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 30, Điều 32, điểm b, khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Sơn T. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa số 230, tờ bản đồ số 76, diện tích 2.617,3m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại Khóm A, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh có số phát hành là CĐ 703233 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T) cấp cho hộ bà Trương Thị Thanh T3 ngày 11 tháng 7 năm 2016.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm: Buộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T) phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm. Ông Sơn T không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm; hoàn trả lại cho ông Sơn T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0000015 ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh.
Về chi phí thẩm định tài sản là 2.904.000 đồng (Hai triệu chín trăm lẽ bốn nghìn đồng), ông Sơn T đồng ý chịu chi phí này và ông Sơn T đã nộp đủ.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Đắc Đương |
Bản án số 06/2025/HC-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về khiếu kiện quyết định hành chính
- Số bản án: 06/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính
