TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2025/DSST Ngày: 05/3/2025 “V/v Tranh chấp hợp đồng Sử dụng thẻ tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụ;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lưu Văn Thiệm;
2. Bà Phạm Thị Quyên;
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên;
Trong ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 139/2024/TLST- DS ngày 07 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXX-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 16/2025/QĐST-HPT ngày 26/02/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1; Địa chỉ: A P, quận P, TP .;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Sơn H - Chức vụ: Giám đốc P (Theo Quyết định ủy quyền số 163/QĐ-DAB-HĐQT-PC ngày 08/8/2022); Người đại diện tham gia tố tụng: Bà Bùi Ngọc L, sinh năm 1991 (Theo Quyết định ủy quyền số 05/QĐ-DAB-CGY ngày 27/9/2024); Có mặt;
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1970; Địa chỉ: P103C nhà A, khu tập thể N, quận C, TP .; Vắng mặt;
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1963; Địa chỉ: P103C nhà A, khu tập thể N, quận C, TP .; Vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 20/12/2015 bà Nguyễn Thị Kim L1 ký với Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh T1 - P, Giấy đăng ký vay tiền trả góp Kiêm khế ước nhận nợ với khoản cấp tín dụng là 20.000.000 đồng. Chi tiết như sau: Vốn gốc: 20.000.000 đồng; Lãi suất trong hạn: 9%/năm; Lãi suất quá hạn: 13.5%/năm; Thời hạn vay: 06 tháng (từ 28/12/2015 đến 28/06/2016); Mục đích vay: Tiêu dùng; Biện pháp đảm bảo: Tín chấp. Ông Trần Văn Đ là người bảo lãnh cho khoản vay của bà Nguyễn Thị Kim L1.
Đến thời hạn trả nợ Bà Nguyễn Thị Kim L1 không thanh toán cho Ngân hàng theo đúng cam kết. Sau nhiều lần làm việc, thúc giục, bà Nguyễn Thị Kim L1 trì hoãn không thanh toán cho Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
- - Buộc bà Nguyễn Thị Kim L1 trả ngay cho D tổng số nợ còn thiếu (gồm vốn gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn) tính đến ngày 11/11/2024. Trong trường hợp bà L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì đề nghị buộc ông Trần Văn Đ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay. Cụ thể như sau: Vốn gốc: 20.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 900.000 đồng; Lãi quá hạn: 23.150.280 đồng; Tổng cộng: 44.050.280 đồng. Trong trường hợp bà L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì đề nghị buộc ông Trần Văn Đ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay.
- - Bà Nguyễn Thị Kim L1 phải tiếp tục chịu lãi quá hạn phát sinh từ ngày 12/11/2024 đến ngày bà Nguyễn Thị Kim L1 thực trả hết nợ cho D theo lãi suất quá hạn được quy định tại Giấy đăng ký vay tiền trả góp (Kiêm khế ước nhận nợ) ngày 16/12/2015;
- - Trường hợp bà Nguyễn Thị Kim L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì D được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê biên phát mãi các tài sản của khách hàng để thu hồi nợ cho D;
- - Bà Nguyễn Thị Kim L1 phải chịu mọi chi phí phát sinh.
Bị đơn – Bà Nguyễn Thị Kim L1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Đ vắng mặt tại nơi cư trú. Tòa án đã tiến hành các thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn, người liên quan vẫn vắng mặt, không có lời khai.
Tại phiên tòa:
- * Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Kim L1 phải trả cho D tổng số nợ còn thiếu (gồm vốn gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn) tính đến ngày 05/3/2025 là: Vốn gốc: 20.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 900.000 đồng; Lãi quá hạn: 24.005.280 đồng; Tổng cộng: 44.905.280 đồng. Trong trường hợp bà L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì đề nghị buộc ông Trần Văn Đ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay.
- - Bà Nguyễn Thị Kim L1 phải tiếp tục chịu lãi quá hạn phát sinh từ ngày 06/3/2025 đến ngày bà Nguyễn Thị Kim L1 thực trả hết nợ cho D theo lãi suất quá hạn được quy định tại Giấy đăng ký vay tiền trả góp (Kiêm khế ước nhận nợ) ngày 16/12/2015;
- - Trường hợp bà Nguyễn Thị Kim L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì D được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê biên phát mãi các tài sản của khách hàng để thu hồi nợ cho D;
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng khác, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết thông báo, quyết định hợp lệ. Tại phiên tòa bà L1, ông Đ vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1.
- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1]. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật và thủ tục tố tụng:
1.1 Về thẩm quyền: Xét nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 khởi kiện tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đến Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy là nơi đăng ký nhân khẩu thường trú của bị đơn tại địa chỉ P103C nhà A11, khu tập thể N, quận C, TP . là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
1.2 Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP Đ1 khởi kiện bà Nguyễn Thị Kim L1 yêu cầu Tòa án buộc bà L1 phải trả số tiền nợ gốc và lãi phát sinh từ Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ đã ký kết giữa các bên. Do đó quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
1.3 Về thủ tục tố tụng: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim L1, ông Trần Văn Đ có địa chỉ tại P103C nhà A11, khu tập thể N, quận C, TP .. Quá trình giải quyết vụ án, ngày 23/10/2024 Tòa án tiến hành xác minh Công an phường N xác định: “Bà Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1970 và ông Trần Văn Đ, sinh năm 1963 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại P103C nhà A, Khu tập thể N, quận C, Hà Nội. Hiện bà L1 và ông Đ đã chuyển về sinh sống tại thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên hơn 05 năm nay”.
Ngày 04/11/2024, Toà án đã tiến hành xác minh Công an xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên xác định: “Trên hệ thống dữ liệu quốc gia về dân cư, Công an xã T không tìm thấy thông tin của công dân Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1970 và Trần Văn Đ, sinh năm 1963, cũng không có công dân nào tên Nguyễn Thị Kim L1 và ông Trần Văn Đ đăng ký thường trú hay tạm trú trên địa bàn xã T. Qua rà soát cũng không có công dân nào tên Nguyễn Thị Kim L1 và Trần Văn Đ sinh sống trên địa bàn”.
Căn cứ Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc thông báo trực tiếp và niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Toà án không bảo đảm cho bà Nguyễn Thị Kim L1 và ông Trần Văn Đ nhận được thông tin cần được Tòa án thông báo, tống đạt. Tòa án quyết định thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để thông báo về nội dung, thời gian, địa điểm tiến hành tố tụng của Tòa án đối với bà Nguyễn Thị Kim L1 và ông Trần Văn Đ.
Ngày 25, 26, 27/12/2024 Trung tâm Q (V) đã phát thông báo của Toà cho bà Nguyễn Thị Kim L1 và ông Trần Văn Đ trên VOV2; Toà án cũng tiến hành đăng tin thông báo cho bà Nguyễn Thị Kim L1 và ông Trần Văn Đ trên 03 số báo liên tiếp 02, 03, 04 của B và đăng trên cổng thông tin của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội mời bà L1, ông Đ lên làm việc nhưng bà L1, ông Đ vẫn vắng mặt, không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L1, ông Đ là có căn cứ và đúng quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng G và tài liệu do Tòa án thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
[2]. Về nội dung và hiệu lực của Hợp đồng:
[2.1] Hiệu lực của Hợp đồng: Ngày 28/12/2015, bà Nguyễn Thị Kim L1 ký Giấy đăng ký vay tiền trả góp Kiêm khế ước nhận nợ với Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh T1 - P. Căn cứ thu nhập của bà L1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số 704061162160495 với hạn mức sử dụng là 20.000.000đ; Lãi suất trong hạn: 9%/năm; Lãi suất quá hạn: 13.5%/năm; Thời hạn vay: 06 tháng (từ 28/12/2015 đến 28/06/2016); Định kỳ trả nợ là ngày 28 hàng tháng; Mục đích vay: Tiêu dùng; Biện pháp đảm bảo: Tín chấp. Ông Trần Văn Đ là người bảo lãnh cho khoản vay của bà Nguyễn Thị Kim L1. Các bên ký hợp đồng tự nguyện, người ký kết là người có thẩm quyền và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo pháp luật. Do vậy, xác định Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng như cam kết.
[2.2] Về việc thực hiện Hợp đồng: Theo các tài liệu do Ngân hàng cung cấp thể hiện: Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà L1 đã được giải ngân số tiền 20.000.000 đồng vào ngày 28/12/2015, thời hạn 06 tháng. Định kỳ trả nợ ngày 28 hàng tháng. Đến kỳ trả nợ đầu tiên ngày 28/01/2016 (kỳ đầu tiên) khách hàng không thanh toán được nên số tiền vốn gốc phải trả kỳ đầu là 3.225.857 đồng đã bị chuyển nợ quá hạn. Các kỳ tiếp theo bà L1 đều vi phạm và số tiền vốn gốc phải trả trong các kỳ đều bị chuyển quá hạn với lãi suất quá hạn kể từ ngày vi phạm của kỳ.
[3]. Xét cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Số tiền nợ gốc: Như đã nhận định ở trên, số tiền gốc bà L1 còn nợ lại là 20.000.000 đồng, đến hạn thanh toán bà L1 không trả nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Phần III cam kết của người vay). Do đó, có cơ sở xác định số tiền nợ gốc bà L1 còn nợ Ngân hàng là 20.000.000 đồng.
[3.2]. Về số tiền lãi: Theo thỏa thuận giữa các bên: Lãi suất quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc là 0.75%/tháng (150% lãi suất trong hạn là 1.125%). Tiền lãi trong hạn kể từ ngày 28/12/2015 đến 28/6/2016 là 180 ngày nên lãi trong hạn là 900.000 đồng; Tiền lãi quá hạn kể từ ngày 28/01/2016 đến ngày 05/3/2025 là 3.127 ngày nên số tiền nợ lãi quá hạn phải chịu là 24.005.280 đồng.
Căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên tại thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng, có cơ xác nhận số tiền lãi bà L1 phải trả cho đến ngày 05/3/2025 theo cách tính lãi của Ngân hàng là 24.905.280 đồng.
Từ những nhận định ở trên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Nguyễn Thị Kim L1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền tính đến ngày 05/3/2025 là 44.905.280 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi bốn triệu chín trăm linh năm nghìn hai trăm tám mươi đồng), trong đó:
- - Dư nợ gốc: 20.000.000 đồng
- - Lãi trong hạn: 900.000 đồng
- - Lãi quá hạn: 24.005.280 đồng
Ngoài số tiền gốc và lãi tính đến ngày 05/3/2025 như trên, bà Nguyễn Thị Kim L1 còn phải chịu mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết.
Trường hợp bà Nguyễn Thị Kim L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì ông Trần Văn Đ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay theo cam kết của người bảo lãnh tại phần IV của Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ.
Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Kim L1 phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 3 điều 173; Điều 179; khoản 2 Điều 184; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 429; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điều 99; Điều 100; Điều 103; Điều 107 của Luật các tổ chức tín dụng;
- - Khoản 3 Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- - Điều 2; Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1 đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim L1.
Buộc bà Nguyễn Thị Kim L1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 05/3/2025 là: 44.905.280 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi bốn triệu chín trăm linh năm nghìn hai trăm tám mươi đồng), trong đó:
- - Dư nợ gốc: 20.000.000 đồng
- - Lãi trong hạn: 900.000 đồng
- - Lãi quá hạn: 24.005.280 đồng
Ngoài số tiền gốc và lãi tính đến ngày 05/3/2025, bà Nguyễn Thị Kim L1 còn phải trả tiền lãi quá hạn trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất được thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 06/3/2024 đến khi tất toán xong toàn bộ số nợ.
Trong trường hợp bà Nguyễn Thị Kim L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì ông Trần Văn Đ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay của người bảo lãnh.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí:
- + Bà Nguyễn Thị Kim L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.245.264 đồng (Hai triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn hai trăm sáu mươi bốn đồng).
- + Trả lại Ngân hàng TMCP Đ1 1.058.375 đồng (Một triệu không trăm năm mươi tám nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0046459 ngày 07/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Đ vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thụ |
Bản án số 06/2025/DSST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Số bản án: 06/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng Sử dụng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 20/12/2015 bà Nguyễn Thị Kim L1 ký với Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh T1 - P, Giấy đăng ký vay tiền trả góp Kiêm khế ước nhận nợ với khoản cấp tín dụng là 20.000.000 đồng. Chi tiết như sau: Vốn gốc: 20.000.000 đồng; Lãi suất trong hạn: 9%/năm; Lãi suất quá hạn: 13.5%/năm; Thời hạn vay: 06 tháng (từ 28/12/2015 đến 28/06/2016); Mục đích vay: Tiêu dùng; Biện pháp đảm bảo: Tín chấp. Ông Trần Văn Đ là người bảo lãnh cho khoản vay của bà Nguyễn Thị Kim L1.
