Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI

—————————

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 06/2025/DS-ST

Ngày: 26 - 06 - 2025

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Đức Ngọc
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thi
  • Bà Trần Bích Thủy
  • - Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Bích Loan, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát: Không tham gia

Ngày 26 tháng 06 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 58/2024/TLST- DS ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc Tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST- DS ngày 11 tháng 06 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST- DS ngày 23/06/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q1

Địa chỉ: Tầng A, tầng B, Tòa nhà S - A P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên hệ: Tầng D, Tòa nhà C, số D T, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V; Chức vụ: Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Đình H; Chức vụ: Giám đốc thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ.

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Tử K; Cán bộ xử nợ; có mặt

- Bị đơn:

  • + Ông Nguyễn Q, sinh năm 1972 (đã chết)
  • + Bà Bị Thị Thu H1, sinh năm 1973; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Số F ngõ C, phường N, thị xã S, TP ..

- Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Q:

  • + Bà Bị Thị Thu H1, sinh năm 1973; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Quang N, sinh năm 1992; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Số F ngõ C, phường N, thị xã S, TP

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1971; vắng mặt
  • + Bà Trần Thị Minh T, sinh năm 1977; có mặt
  • + Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1996; vắng mặt
  • + Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1997; vắng mặt
  • + Chị Nguyễn Linh N1, sinh năm 2012; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Số nhà A thôn V, xã T, thị xã S, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai tại Tòa án, đại diện Ngân hàng TMCP Q1, trình bày:

Ngày 24/05/2023, Ngân hàng TMCP Q1 (V1) và ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 đã ký Hợp đồng tín dụng và đề nghị phát hành thẻ tín dụng, cụ thể như sau:

  • - Hợp đồng tín dụng số: 4184255.23 ngày 24/5/2023, với nội dung cụ thể như sau:
  • Số tiền vay: 1.500.000.000đ; Mục đích vay: Sửa chữa nhà (không làm thay đổi kết cấu) và mua sắm trang thiết bị gia đình; Thời hạn vay: 180 tháng; Lãi suất vay tại thời điểm giải ngân 12.5%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4,1%/năm.

    Ngân hàng đã giải ngân cho ông Nguyễn Q và bà Bì Thị Thu H2, theo đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số: 4184255 (1).23 với số tiền 1.500.000.000₫ (Một tỷ, năm trăm triệu đồng).

  • - Hợp đồng tín dụng số 6533835.23 ngày 22/6/2023, với nội dung cụ thể như sau:
  • Số tiền vay: 1.000.000.000đ; Mục đích vay: Vay bổ sung vốn lưu động kinh doanh chăn nuôi gia súc; Thời hạn vay: 11 tháng; Lãi suất vay tại thời điểm giải ngân 7.5%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 06 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 2,5%/năm.

    Ngân hàng đã giải ngân cho ông Nguyễn Q và bà Bì Thị Thu H2, theo đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số: 6533835 (2).23 với số tiền 1.000.000.000₫ (Một tỷ đồng).

  • + Đề nghị phát hành thẻ ngày 18/10/2021 với hạn mức 40.000.000₫
  • + Thẻ tín dụng ngày 07/03/2024 hạn mức 110.000.000đ.

Để bảo đảm cho các nghĩa vụ tín dụng trên, ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 đã thế chấp tài sản của mình tại Ngân hàng là : Quyền sử dụng và tài sản gắn liền với đất đối với Thửa đất số: 159, tờ bản đồ số: 31, tại địa chỉ: Thôn V, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số: CE 050232, số vào sổ cấp GCN: CS-ST 03185 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 05/09/2016 đứng tên ông Nguyễn Q) theo Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng: 06416 ngày 29/10/2021 giữa ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 và Ngân hàng TMCP Q1 tại Phòng C2, thành phố Hà Nội. Tài sản bảo đảm được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện Hợp đồng: Ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 đã trả 108.342.000đ tiền gốc và 186.638.681đ tiền lãi trong hạn và 171.186đ tiền lãi quá hạn. Từ ngày 27/9/2024 đến nay, ông Q và bà H2 không thanh toán cho Ngân hàng bất kỳ khoản tiền gốc và tiền lãi nào. Ngân hàng đã gửi nhiều thông báo, công văn yêu cầu ông Q, bà H2 trả nợ, nhưng ông Q, bà H2 không thực hiện.

Tính đến ngày 20/6/2025, dư nợ của ông Q, bà H2 tại Ngân hàng TMCP Q1 như sau:

  • + Nợ gốc: 2.541.549.000₫
  • + Nợ lãi trong hạn: 106.162.178đ;
  • + Nợ lãi quá hạn: 365.242.650đ.

Tổng nợ: 3.012.953.828₫

Tại phiên tòa, Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết các nội dung sau:

  1. Buộc bà Bì Thị Thu H2 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền tính đến ngày 20/06/2025 là: 3.012.953.828 đồng, bao gồm: Nợ gốc là 2.541.549.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là: 106.162.178đồng; Nợ lãi quá hạn là: 365.242.650đồng và lãi suất phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số 4184255.2324/05/2023Hợp đồng tín dụng số 6533835.2322/06/2023Đề nghị phát hành thẻ18/10/2021 Yêu cầu cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng ngày 07/03/2024, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà bà H2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng là: “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 159tờ bản đồ số: 31 địa chỉ tại: Thôn V, xã T, thị xã S, thành phố H chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn khác gắn liền với đấtCE 050232số vào sổ cấp GCN: CST03185Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H 05/09/2016tên ông Nguyễn QuânTài S này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với đất số công chứng 06416quyển số: 10.2021 TP/CC-SCC/HĐGDVăn phòng C2, thành phố H ngày 29/10/2021toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho V1. Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho V1.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V1. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V1.

Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

+ Bị đơn, bà Bì Thị Thu H2 trình bày:

Chồng bà là ông Nguyễn Q (chết tháng 2 năm 2025). Bà có nhận được giấy triệu tập của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây báo đến Tòa án để giải quyết vụ án theo đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1 đối với vợ chồng bà, nhưng trong thời gian đó chồng bà thường xuyên phải đi bệnh viện B để điều trị căn bệnh ung thư nên bà phải đi chăm sóc ông Q từ tháng 9 năm 2024 cho đến tháng 2 năm 2025 thì ông Q chết, vì vậy bà không đến Tòa án được.

Bà công nhận năm 2023 vợ chồng bà có ký Hợp đồng tín dụng và đề nghị phát hành thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP Q1 để vay tiền như nội dung đơn khởi kiện của Ngân hàng mà hôm nay Tòa án cho bà xem là đúng. Vợ chồng bà đã được Ngân hàng giải ngân số tiền vay là 2,5 tỷ đồng; Mục đích vay sửa chữa nhà, về lãi suất vay như Ngân hàng trình bày trong đơn khởi kiện là đúng.

Ngoài ra, vợ chồng bà còn được Ngân hàng phát hành thẻ hạn mức ngày 18/10/2021 là 40.000.000đ; Ngày 07/3/2024 là 110.000.000đ.

Để đảm bảo cho khoản vay này, vợ chồng bà đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 159, tờ bản đồ số 31 tại thôn V, xã T, thị xã S. Thửa đất này do ông Q mua và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Q. Việc mua bán đất cụ thể như thế nào bà không biết vì do ông Q giao dịch mua bán.

Trong quá trình vay tiền của Ngân hàng, vợ chồng bà đã trả được cho Ngân hàng khoảng hơn hai trăm triệu tiền đồng gốc và tiền lãi như Ngân hàng trình bày là đúng (vì lâu ngày bà không nhớ cụ thể). Sau đó, do ông Q ốm nên không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng. Đến nay, Ngân hàng yêu cầu vợ chồng bà trả nợ số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 2.623.894.604đ, bà đồng ý trả nợ. Trường hợp bà không trả được nợ cho Ngân hàng thì bà đồng ý để Ngân hàng phát mại tài sản mà vợ chồng bà đã thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng. Vợ chồng bà sinh được một người con là Nguyễn Quang N, sinh năm 1992 hiện đang sống chung cùng bà. Bà đã được nghe Tòa án giải thích, nhưng bà không đồng ý cho cháu N trình bày bất cứ một vấn đề gì với Tòa án và không ký bất cứ một giấy tờ, biên bản gì. Bố mẹ anh Q đã chết từ lâu, thời gian bố anh Q chết khoảng năm 2004, còn mẹ anh Q chết khoảng năm 2011. Do bận công việc bán hàng nên bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà.

Về việc lý do tại sao cháu Nguyễn Quang N, sinh năm 1992 là con chung của bà và ông Q, nhưng tháng 11 năm 2016 mới đăng ký kết hôn. Về vấn đề này bà trình bày như sau: Bà đăng ký kết hôn cùng ông Q năm 1992, đến năm nào bà không nhớ do có mâu thuẫn vợ chồng nên bà và ông Q được Tòa án Sơn Tây giải quyết cho ly hôn, được khoảng thời gian ngắn bà và ông Q lại về sống chung cùng nhau, nhưng mãi đến tháng 11 năm 2016 liên quan đến việc vay tiền của Ngân hàng thì bà và ông Q mới đăng ký kết hôn lại.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị Minh T trình bày:

Vợ chồng bà không có quan hệ anh em họ hàng gì và không quen biết vợ chồng chị H2, anh Q. Nguồn gốc đất mà vợ chồng chị H2, anh Q thế chấp cho Ngân hàng TMCP Q1 để vay tiền là của vợ chồng bà được bố mẹ đẻ chồng bà cho từ năm 1999, đến năm 2006 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên cả hai vợ chồng bà. Vì vậy, vợ chồng bà xây nhà và ở tại đất nhà này từ đó cho đến nay.

Hôm nay, Tòa án cho bà xem thì bà mới biết đất của vợ chồng bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Q. Tuy nhiên, bà nhớ lại thì thấy năm 2010, chị Nguyễn Thị H3 có chồng là anh Cao Tiến T1 có đến đặt vấn đề với vợ chồng bà là: Anh chị có sổ đỏ thì cho em mượn để em đi cắm vay tiền làm ăn. Do chị H3 là em con ông chú ruột của anh C (bố anh C và bố H3 là hai anh trai), vì vậy, hai vợ chồng bà đồng ý giúp chị H3. Sau đó, chị H3 bảo vợ chồng bà đến Văn phòng C3, thị xã S để ký một vài tờ giấy gì đó, do tin tưởng vợ chồng T1, H3 nên bảo vợ chồng bà ký thì vợ chồng bà ký, thực tế không biết ký giấy tờ gì.

Sau khi ký giấy tờ ở Phòng C4 xong thì vợ chồng bà cùng vợ chồng chị H3 về nhà anh Nguyễn Huy N2, sinh năm 1972 là người ở số nhà A L, phường L, thị xã S. Tại đây, bà thấy anh N2 có đưa cho vợ chồng chị H3 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng). Tại phòng C4 hôm đó có anh N2.

Đến năm 2021 thì thấy có một người đàn ông xưng tên là C1 đến nhà bà ngó nghiêng đất nhà sau đó về luôn, khoảng một vài tháng sau thì vợ chồng anh Q, chị H2 đến nói với vợ chồng bà là thửa đất mà vợ chồng bà đang ở đã được vợ chồng anh Q, chị H2 mua, lúc này bà gọi điện cho anh N2 để hỏi tại sao bán đất của vợ chồng bà thì anh N2 nói có nói với vợ chồng H3, T1 rồi. Như vậy, lúc này vợ chồng bà mới biết hôm ký giấy tờ tại Phòng công chứng số 8 chính là vợ chồng bà đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh N2 và sau đó anh N2 đã bán cho anh C1 và anh C1 bán cho anh Q.

Kể từ khi biết anh Q mua đất của vợ chồng bà thì anh Q có đến nói với vợ chồng bà là hợp tác cùng vợ chồng anh Q để Ngân hàng cho vợ chồng anh Q vay tiền làm ăn, vợ chồng bà không đồng ý thì anh Q về nhà và gọi điện đe dọa bà, với nội dung: Nếu không để Ngân hàng thẩm định cho anh Q vay tiền thì anh sẽ đuổi vợ chồng bà ra khỏi nhà.

Sau khi bị anh Q đe dọa thì vợ chồng ba đành hợp tác để Ngân hàng đến thẩm định tài sản là đất nhà của bà để cho anh Q vay tiền. Tuy nhiên, trước khi hợp tác cùng anh Q thì bà có nói với anh Q là: “ Anh vay tiền Ngân hàng thì anh phải trả đừng để vợ chồng em mất đất nhé”, anh Q đồng ý.

Đến nay, anh Q đã chết và không trả được tiền cho Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết. Trong trường hợp vợ chồng anh Q không trả được nợ mà Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là đất nhà mà vợ chồng bà đang ở thì bà không đồng ý.

Hiện nay, trên đất nhà mà vợ chồng bà đang ở có con trai là Nguyễn Văn M, con dâu là Nguyễn Thị L, con gái là Nguyễn Linh N1. Ngoài ra, không có ai khác.

Do anh Nguyễn Văn N3, anh Nguyễn Văn M, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Linh N1, không hợp tác nên Tòa án không lấy được lời khai của những người này và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà T tại phiên tòa trình bày: Do thiếu hiểu biết về mặt pháp luật và do tin tưởng chị H3 nên vợ chồng bà đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh N3. Bà đề nghị Ngân hàng xem xét giảm tiền lãi để bà có điều kiện được chuộc lại mảnh đất này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra công khai tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP Q1 khởi kiện ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 về việc Tranh chấp Hợp đồng tín dụng là Tranh chấp dân sự về Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là Tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Bị đơn là ông Nguyễn Q (đã chết tháng 2 năm 2025), bà Bì Thị Thu H2, anh Nguyễn Quang N là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Q có địa chỉ tại số F, ngõ C, phường N, thị xã S, thành phố Hà Nội. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây.

Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, bà Bì Thị Thu H2 và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Q là anh Nguyễn Quang N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh M, chị L, chị N1 không hợp tác, không đến Tòa án nên Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng thông qua bà H2 và bà T theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bà H2 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh N, ông C, anh M, chị L, chị N1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Ngày 24/05/2023 Ngân hàng TMCP Q1 và ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 đã ký Hợp đồng tín dụng số 4184255.23với nội dung: Ngân hàng cho ông Q, bà H2 vay số tiền 1.500.000.000đ; Mục đích vay: Sửa chữa nhà (không làm thay đổi kết cấu) và mua sắm trang thiết bị gia đình; Thời hạn vay: 180 tháng; Lãi suất vay tại thời điểm giải ngân 12.5%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4,1%/năm.

Tại khế ước nhận nợ số 4184255 (1).23, ngày 24/05/2023, ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 đã ký nhận nợ với số tiền 1.500.000.000đ.

Ngày 22/06/2023 Ngân hàng TMCP Q1 và ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 đã ký Hợp đồng tín dụng số 6533835.23, với nội dung: Ngân hàng cho ông Q, bà H2 vay số tiền 1.000.000.000đ; Mục đích vay Vay bổ sung vốn lưu động kinh doanh chăn nuôi gia súc; Thời hạn vay: 11 tháng; Lãi suất vay tại thời điểm giải ngân 7.5%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 06 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 2,5%/năm.

Tại khế ước nhận nợ số 6533835(2).23, ngày 27/06/2023, ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 đã ký nhận nợ với số tiền 1.000.000.000đ.

Ngoài ra, Ngân hàng còn cho ông Q vay theo thẻ tín dụng ngày 18/10/2021, hạn mức thẻ 40.000.000 đồng. Số tài khoản thẻ tín dụng: C700000824618, chủ thẻ ông Nguyễn Q. Thẻ tín dụng ngày 07/03/2024 hạn mức thẻ 110.000.000đ. Số tài khoản thẻ tín dụng C700004371571. Chủ thẻ ông Nguyễn Q.

Xét 02 Hợp đồng trên, thấy rằng: Hợp đồng tín dụng được lập thành văn bản, mục đích và nội dung các thỏa thuận đều tự nguyện, có hình thức phù hợp với các quy định của pháp luật. Các bên tham gia ký kết Hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và đều được các bên thừa nhận, không có tranh chấp nên có hiệu lực.

Quá trình thực hiện Hợp đồng: Ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 295.151.867đồng; Trong đó 108.342.000 đồng tiền gốc, 186.638.681đồng tiền lãi trong hạn và 171.186 đồng tiền lãi quá hạn. Sau đó, ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết với Ngân hàng, vi phạm các nội dung thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp nên khoản vay trên đã bị chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 05/07/2024. Tính đến 20/06/2025 ông Q, bà H2 còn nợ Ngân hàng tổng cộng là 3.012.953.828 đồng, Trong đó:

  • + Đối với Hợp đồng tín dụng số 4184255.23 ngày 24/05/2023 nợ gốc là 1.391.558.000đ; Nợ lãi trong hạn 54.441.382đ; Nợ lãi quá hạn: 212,649,295đ. Tổng cộng: 1.658.648.677đồng.
  • + Đối với Hợp đồng tín dụng số 6533835.23 ngày 22/6/2023. Nợ gốc là: 1.000.000.000đồng; Nợ lãi trong hạn: 21.232.877đồng; Nợ lãi quá hạn: 106.489.980đ. Tổng cộng: 1.127.722.857đồng
  • + Đối với thẻ tín dụng ngày 18/10/2021. Nợ gốc: 39.902.000đồng; Nợ lãi trong hạn: 8.657.424đồng; Nợ lãi quá hạn: 22.595.635đồng. Tổng cộng: 71.155.059đồng
  • + Đối với thẻ tín dụng ngày 07/03/2024. Nợ gốc: 110.089.000đ; Nợ lãi trong hạn: 21.830.495đồng; Nợ lãi quá hạn:23.507.740đồng. Tổng cộng: 155.427.235đồng.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định bị đơn đã vay của nguyên đơn số tiền 2.500.000.000đồng và 150.000.000₫ phát hành thẻ tín dụng và mới chỉ thanh toán được số tiền như đã nêu trên nên chấp chập yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc 2.541.549.000đồng cho nguyên đơn là có căn cứ.

Về nợ lãi trong hạn: Nguyên đơn đã áp dụng lãi suất theo thỏa thuận tại 02 Hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng là: 106.162.178đ là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét lãi suất trong hạn mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng là mức lãi suất đã được điều chỉnh phù hợp với lãi suất quy định của Ngân hàng N5 tại các thời kỳ. Đối với lãi suất quá hạn, hai bên thỏa thuận bằng 150% lãi suất trong hạn, phù hợp với quy định pháp luật. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện, buộc bị đơn phải thanh toán toàn bộ tiền nợ gốc và tiền nợ lãi cho Ngân hàng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy: Tính đến ngày 20/06/2025, bị đơn còn nợ Nguyên đơn tổng số tiền là 3.012.953.828đồng, trong đó: Nợ gốc: 2.541.549.000đồng; Nợ lãi trong hạn: 106.162.178 đồng; Nợ lãi quá hạn: 365.242.650đồng. Phía bị đơn còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc kể từ ngày 21/06/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng.

Xét Hợp đồng thế chấp Tài sản: Ngày 29/10/2021, ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 đã thế chấp tài sản của mình tại Ngân hàng TMCP Q1 là: Quyền sử dụng và tài sản gắn liền với đất đối với Thửa đất số: 159, tờ bản đồ số: 31, tại địa chỉ: Thôn V, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số: CE 050232, số vào sổ cấp GCN: CS-ST 03185 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 05/09/2016 đứng tên ông Nguyễn Q). Tài sản này được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng: 06416 ngày 29/10/2021 giữa ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 và Ngân hàng TMCP Q1 tại Phòng C2, thành phố Hà Nội. Tài sản bảo đảm được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Xét Hợp đồng thế chấp tài sản: Trước khi ông Q, bà H2 và Ngân hàng ký hợp đồng thế chấp, các bên đã làm thủ tục xác nhận, thẩm định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật. Tài sản bảo đảm đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định. Hợp đồng thế chấp được lập thành văn bản, các bên ký hợp đồng thế chấp có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của Hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; đối tượng của Hợp đồng là có thật, các nội dung đều có sự chứng nhận của Công chứng viên và đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định nên xác định Hợp đồng thế chấp có hiệu lực thi hành. Do vậy, trường hợp bà H2 không thanh toán trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Nếu số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ thì bà H2 vẫn phải tiếp tục trả hết nợ cho Ngân hàng.

Về yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị Minh T không đồng ý phát mại tài sản mà ông Q, bà H2 thế chấp cho Ngân hàng.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguồn gốc tài sản mà ông Q, bà H2 thế chấp cho Ngân hàng là của ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị Minh T và hiện nay vợ chồng ông C cùng các con là anh M, chị L, chị N1 đang ở trên đất nhà này. Tuy nhiên, theo bà T và ông C đều công nhận có đến Văn phòng C3, thị xã S để ký một vài tờ giấy gì đó, sau này mới biết là đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông N, mục đích để anh N cho chị H3 vay tiền, sau đó anh N đã bán cho anh C1 và anh C1 bán cho ông Q và ông Q được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2016, không những thế thời gian Ngân hàng đến thẩm định tài sản để cho ông Q vay tiền, vợ chồng ông C, bà T đều biết nhưng không có ý kiến gì.

Ông Nguyễn Huy N2 khai: Khoảng năm 2010, có 2 người phụ nữ đến nhà tôi, giới thiệu tên là H3 và T, mục đích đến hỏi vay tiền của tôi. Do tôi có tiền nếu ai vay thì cho vay, vì thế chị H3 và chị T biết nên đến hỏi vay tiền và tôi đồng ý nên hai bên thỏa thuận tôi cho vay tiền với điều kiện phải có tài sản thế chấp. Sau đó, tôi có đến nhà chị T để xem đất, lúc đó có chồng chị T là anh C ở nhà. Tại đây, có tôi, chị H3 và vợ chồng anh C, chị T cùng thỏa thuận: Tôi cho vợ chồng chị T, anh C vay 400.000.000đ (bốn trăm triệu) đồng, lãi suất theo Ngân hàng (lâu ngày tôi không nhớ cụ thể lãi bao nhiêu). Để đảm bảo cho khoản vay này, vợ chồng anh C, chị T đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà vợ chồng chị T, anh C đang sử dụng cho tôi. Đồng thời, hai bên thỏa thuận trong thời hạn 1 năm nếu vợ chồng anh C, chị T không trả tiền thì vợ chồng chị T, anh C phải bán đất cho tôi. Khoảng 3 ngày sau tôi cùng vợ chồng anh C, chị T và chị H3 đến Văn phòng C3 để ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại xã T, thị xã S (tôi không nhớ cụ thể thửa đất, chỉ biết đất này của vợ chồng anh anh C, chị T đang sử dụng). Sau khi hoàn thiện xong thủ tục công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì tất cả về nhà tôi và tôi đưa 400.000.000đ cho chị T trước mặt anh C và chị H3. Đến năm 2015, vợ chồng chị T không trả tiền cho tôi nên tôi đã bán thửa đất nêu trên cho anh C1 là người ở thị xã S (địa chỉ cụ thể tôi không biết). Trước khi bán đất cho anh C1 tôi có đưa anh C1 vào nhà chị T xem đất và thông báo cho vợ chồng chị T, anh C biết. Chị T nói với tôi “Bây giờ là quyền anh, anh muốn bán thế nào là quyền anh”. Sau khi tôi bán đất cho anh C1 xong thì tôi không còn lưu giữ các giấy tờ liên quan đến Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy vay tiền giữa tôi và vợ chồng chị T, cũng như Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa tôi và anh C1. Sau đó, anh C1 bán đất cho ai thì tôi không biết.

Lời khai của anh N2 phù hợp với lời khai của ông C, bà T về việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông C với anh N2 tại Văn phòng C3 thị xã S. Về mặt pháp lý: Sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2010 thì ông C, bà T không còn là chủ sở hữu nữa, mặc dù vợ chồng ông C vẫn đang ở trên đất nhà đó. Sau khi ông N2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bán cho anh C1 và anh C1 bán cho ông Q nên ông Q đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.

Như đã phân tích ở trên, Hợp đồng thế chấp tài sản giữa ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 có hiệu lực thi hành nên Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của ông C, bà T về việc không đồng ý phát mại tài sản thế chấp.

[3] Về án phí: Bà Bì Thị Thu H2 phải chịu tiền án phí theo quy định.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 117, Điều 298, Điều 299, Điều 317, Điều 320, Điều 322, Điều 323, Điều 401, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468, Điều 615 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1 đối với ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2.
  2. Buộc bà Bì Thị Thu H2 và người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông Nguyễn Q là anh Nguyễn Quang N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 tổng số tiền tính đến ngày 20/06/2025 là 3.012.953.828 đồng (Ba tỷ, không trăm mười hai triệu, chín trăm năm mươi ba nghìn, tám trăm hai mươi tám đồng), Trong đó:
    • + Đối với Hợp đồng tín dụng số 4184255.23 ngày 24/05/2023 nợ gốc là 1.391.558.000đ; Nợ lãi trong hạn 54.441.382đ; Nợ lãi quá hạn: 212,649,295đ.
    • + Đối với Hợp đồng tín dụng số 6533835.23 ngày 22/6/2023. Nợ gốc là: 1.000.000.000đồng; Nợ lãi trong hạn: 21.232.877đồng; Nợ lãi quá hạn: 106.489.980₫.
    • + Đối với thẻ tín dụng ngày 18/10/2021. Nợ gốc: 39.902.000đồng; Nợ lãi trong hạn: 8.657.424đồng; Nợ lãi quá hạn: 22.595.635đồng.
    • + Đối với thẻ tín dụng ngày 07/03/2024. Nợ gốc: 110.089.000đ; Nợ lãi trong hạn: 21.830.495đồng; Nợ lãi quá hạn:23.507.740đồng.

    Kể từ ngày 21/06/2025, bà Bì Thị Thu H2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

  3. Trường hợp bà Bì Thị Thu H2 và anh Nguyễn Quang N không thanh toán được số nợ trên cho Ngân hàng TMCP Q1 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng và tài sản gắn liền với đất đối với Thửa đất số: 159, tờ bản đồ số: 31, tại địa chỉ: Thôn V, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số: CE 050232, số vào sổ cấp GCN: CS-ST 03185 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 05/09/2016 đứng tên ông Nguyễn Q). Tài sản này được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng: 06416 ngày 29/10/2021 giữa ông Nguyễn Q, bà Bì Thị Thu H2 và Ngân hàng TMCP Q1 tại Phòng C2, thành phố Hà Nội.
  4. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ trên thì bà H2 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Q1.
  5. Trường hợp số tiền phát mại tài sản còn thừa sau khi thanh toán hết các khoản nợ, Ngân hàng TMCP Q1 phải trả lại cho người thế chấp.
  6. Về án phí: Bà Bì Thị Thu H2 phải chịu 92.260.000đ (Chín mươi hai triệu, hai trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại Ngân hàng TMCP Q1 số tiền 42.000.000đ (Bốn mươi hai triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Toà án số 0000986 ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

Căn cứ Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bà T có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TÒA

[Ký tên]

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Đức N4

Nơi nhận

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thị xã Sơn Tây;
  • - THADS thị xã S;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Hoàng Đức Ngọc

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 26/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 06/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger