Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/DS-ST

Ngày: 17/02/2025

V/v: “ Tranh chấp hợp đồng vay

tài sản”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Bính
    • Ông Nguyễn Văn Đô

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Biện Anh Huy- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Cao Thị Hường – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 284/2024/TLST-DS ngày 22/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 750/2024/QĐXXST-DS ngày 18/11/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 782/QĐST-DS ngày 17/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/QĐST-DS ngày 17/01/2025; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Số C U, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Khê Khúc K, sinh năm 1974. (Theo giấy ủy quyền ngày 09/5/2024) (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc H1, sinh năm 1978 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số C T, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Kl Khúc Khoan trình bày:

Vào ngày 18/6/2020, ông Nguyễn Đức H có cho bà Nguyễn Thị Trúc H1 vay số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) để chi tiêu cho gia đình. Thời hạn vay theo thỏa thuận là 6 tháng, không tính lãi suất, thời hạn phải trả là ngày 18/12/2020.

Ông Nguyễn Đức H đã chuyển số tiền 50.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Trúc H1 thông qua ủy nhiệm chi ngày 18/12/2020 tại Ngân hàng TMCP T chi nhánh G, địa chỉ: 4 B, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn tiền được chuyển từ tài khoản số 00356549301, tên chủ tài khoản chuyển tiền là Nguyễn Đức H, người nhận tiền tiền là Nguyễn Thị Trúc H1, tài khoản số 0621003813285 Ngân hàng TMCP N chi nhánh B, chủ tài khoản là Nguyễn Thị Trúc H1.

Hết thời hạn 6 tháng bà Nguyễn Thị Trúc H1 không thực hiện lời hứa, không trả số tiền 50.000.000 đồng cho ông Nguyễn Đức H. Ông H nhiều lần yêu cầu bà H1 trả nợ nhưng bà H1 không thực hiện. Do ông H liên tục yêu cầu bà H1 trả nợ cho ông H nên ngày 27/4/2024, bà H1 tự ý viết giấy hẹn trả nợ có nội dung: “trong thời gian này vì kinh tế khó khăn nên tôi không đủ điều kiện thanh toán. Trong thời gian năm 2024 đến cuối năm 2024 tôi lo được tiền tôi thanh toán cho ông H”.

Khi bà Nguyễn Thị Trúc H1 viết giấy hẹn trả tiền, ông Nguyễn Đức H không đồng ý và yêu cầu bà H1 trả nợ ngay, trả một lần số tiền đã vay là 50.000.000 đồng vì khoản nợ này đã hơn 3 năm nhưng bà H1 không trả cho ông H.

Ông Nguyễn Đức H yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Trúc H1 trả lại cho ông H khoản tiền vay là 50.000.000 đồng. Buộc bà H1 trả lãi do chậm thanh toán là 1%/tháng, tính từ ngày 01/01/2021 đến 30/04/2024 là 20.000.000 đồng.

Tại phiên Tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Khuê K2 Khoan không yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 phải trả lãi do chậm thanh toán là 1%/tháng, tính từ ngày 01/01/2021 đến 30/04/2024 là 20.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã đảm bảo cho việc ra quyết định đúng pháp luật; về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án với nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 trả lại cho ông Nguyễn Đức H khoản tiền vay là 50.000.000 đồng

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Khuê K2 Khoan không yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 phải trả lãi do chậm thanh toán là 1%/tháng, tính từ ngày 01/01/2021 đến 30/04/2024 là 20.000.000 đồng nên không xem xét, giải quyết.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Nguyễn Đức H khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 có địa chỉ tại số C T, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận do nguyên đơn ông Nguyễn Đức H và bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 có thỏa thuận việc ông H cho bà H1 vay số tiền 50.000.000 đồng và ông H yêu cầu bà H1 trả nợ số tiền đã vay là 50.000.000 đồng nên đây là quan hệ pháp luật dân sự về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự. Vụ án không có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập.

[2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp và chứng cứ do nguyên đơn ông Nguyễn Đức H cung cấp nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 đều không có ý kiến liên quan đến yêu cầu khởi kiện, chứng cứ do nguyên đơn ông Nguyễn Đức H cung cấp cũng như yêu cầu phản tố.

[3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, mà bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 vẫn vắng mặt nên HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Khuê K2 Khoan không yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 phải trả lãi do chậm thanh toán là 1%/tháng, tính từ ngày 01/01/2021 đến 30/04/2024 là 20.000.000 đồng nên không xem xét, giải quyết. Đối với yêu cầu khởi kiện buộc bà Nguyễn Thị Trúc H1 trả nợ số tiền đã vay là 50.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Vào ngày 18/6/2020, ông Nguyễn Đức H có cho bà Nguyễn Thị Trúc H1 vay số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), không lập hợp đồng vay. Ông Nguyễn Đức H đã chuyển số tiền 50.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Trúc H1 thông qua ủy nhiệm chi ngày 18/12/2020 tại Ngân hàng TMCP T chi nhánh G, địa chỉ: 4 B, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn tiền được chuyển từ tài khoản số 00356549301, tên chủ tài khoản chuyển tiền là Nguyễn Đức H, người nhận tiền tiền là Nguyễn Thị Trúc H1, tài khoản số 0621003813285 Ngân hàng TMCP N chi nhánh B, chủ tài khoản là Nguyễn Thị Trúc H1. Đây là chứng cứ chứng minh ông Nguyễn Đức H có cho bà Nguyễn Thị Trúc H1 vay số tiền 50.000.000 đồng.

Nguyên đơn ông Nguyễn Đức H cho rằng bà Nguyễn Thị Trúc H1 vay tiền để chi tiêu cho gia đình. Thời hạn vay theo thỏa thuận là 6 tháng, không tính lãi suất, thời hạn phải trả là ngày 18/12/2020. Tuy nhiên không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho lời khai này và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Khuê Khúc K3 cũng không yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 phải trả lãi nên chỉ buộc bà Nguyễn Thị Trúc H1 có trách nhiệm trả nợ số tiền đã vay là 50.000.000 đồng cho ông Nguyễn Đức H là có căn cứ pháp luật.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức H được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức H được chấp nhận nên nguyên đơn ông Nguyễn Đức H không phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Đức H số tiền tạm ứng án phí 1.750.000 đồng đã nộp theo Biên lai số 0001741 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Căn cứ:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 357, Điều 463, khoản 1 Điều 469, Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Luật thi hành án dân sự.

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức H về việc buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 trả nợ cho nguyên đơn ông Nguyễn Đức H số tiền đã vay là 50.000.000 đồng. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 trả nợ cho nguyên đơn ông Nguyễn Đức H số tiền vay là 50.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3.Về án phí: Bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc H1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 2.500.000 đồng. Hoàn trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Đức H số tiền tạm ứng án phí 1.750.000 đồng đã nộp theo Biên lai số 0001741 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo của đương sự có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/02/2025). Quyền kháng cáo của đương sự vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày tính từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP.PT;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận
  • - Chi cục THADS TP.PT;
  • - Cổng TTĐT TAND tối cao
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 06/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger