Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ANH SƠN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 06/2025/DS-ST

Ngày: 16/4/2025

"V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Dân.

Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Tân và bà Trần Thị Tuyết Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2018/TLST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2018 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất".

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 11/2025/QĐXX-DS ngày 26 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1968

Địa chỉ: Thôn 8, xã T, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An – Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1974

Địa chỉ: Thôn 6, xã H, huyện Anh, tỉnh Nghệ An – có mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn:

  1. Bà Hoàng Thị K – sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn 8, xã T, huyện Anh Sơn, Nghệ An – có mặt;
  2. Bà Nguyễn Thị H – Sinh năm: 1955. Địa chỉ: Thôn 8, xã T, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An – văng mặt;
  3. Bà Nguyễn Thị N– Sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn 8, xã T, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An – vắng mặt;
  4. Bà Nguyễn Thị H – Sinh năm 1963. Địa chỉ: Thôn 6, xã H, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An - vắng mặt;
  5. Bà Nguyễn Thị V– Sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn 8, xã H, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An - văng mặt;
  6. Ông Nguyễn Văn L – Sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn 8, xã T, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An – có mặt;
  7. Ông Nguyễn Văn P – Sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn 8, xã T, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An – vắng mặt;
  8. Ông Nguyễn Văn T2 – sinh năm 1968. Địa chỉ: Số nhà 571/40/31 khu phố Đ, quốc lộ 1A, phường T, Dĩ An, Bình Dương – vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị V; Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn T2 ủy quyền cho ông Nguyễn Văn S (là nguyên đơn) tham gia tố tụng.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:

  1. Bà Nguyễn Thị H – sinh 1975. Địa chỉ: Thôn 6, xã H, huyện Anh Sơn, Nghệ An – Có mặt;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn:

  1. Anh Nguyễn Văn A – Sinh năm: 1997. Địa chỉ: Thôn 6, xã H, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An – vắng mặt;
  2. Anh Nguyễn Văn T – Sinh năm: 2005. Địa chỉ: Thôn 6, xã H, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An – vắng mặt;

Anh Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn T ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H (cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) tham gia tố tụng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Nguyễn Văn S trình bày: Năm 1989, ông S và các anh, chị, em trong gia đình đã vào khu vực Khe Nải, xã T để khai hoang trên thửa đất 362, tờ bản đồ số 2. Đến năm 2002, nhà nước có chủ trương giao đất cho dân nên bố và mẹ đẻ ông S là cụ ông Nguyễn Văn Tửu (chết 2005) và cụ bà Nguyễn Thị Thu (chết 2012) làm đơn xin cấp đất và được cơ quan có thẩm quyền giao đất. Sau khi được cấp đất, các thành viên trong gia đình cụ Tửu cho vợ chồng ông S đứng ra canh tác, tiến hành trồng màu ở phía chân đồi, vùng đất còn lại từ chân đồi lên đến phần đất tiếp giáp đỉnh đồi (đất triền đồi) có các cây bụi tự nhiên thì vợ chồng ông S tiến hành khoanh nuôi, bảo vệ để mục đích khai thác củi. Năm 2016, vợ chồng ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H đã lấn chiếm một phần thửa đất 362, tờ bản đồ số 2, địa danh Khe Nải, xã T, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An với diện tích bị lấn chiếm là 3,5 ha đất, chặt phá toàn bộ cây bụi tự nhiên và trồng tràm trên đó. Nay ông S đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Văn L trả lại 3,5 ha đất lấn chiếm thuộc thửa đất 362, tờ bản đồ số 2, địa danh Khe Nải, xã T, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An cho gia đình ông S.

Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị đơn Nguyễn Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Nguyễn Thị H trình bày:

Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông S vì một phần thửa đất lâm nghiệp số 362 (phần đang tranh chấp) được vợ chồng ông L, bà H sử dụng như sau:

Ở phần đất đỉnh đồi: Từ năm 1996, ông L và một số hộ dân đã khai hoang để trồng ngô, lạc; do đất bạc màu năng suất thấp nên có mùa thì canh tác trên đám đất này, đến mùa sau thì canh tác đám đất khác. Một thời gian sau thì các hộ dân khác cũng bỏ hoang nên vợ chồng ông L, bà H tự quản lý và sử dụng toàn bộ phần đất ở đỉnh đồi.

Ở phần đất triền đồi: Trong khoảng thời gian từ năm 2002 - 2003, thấy phần đất triền đồi không có người trông coi, sử dụng, trên đất chỉ có cây bụi tự nhiên nên vợ chồng ông L, bà H tự khoanh nuôi và bảo vệ. Năm 2003, thì có 01 cán bộ huyện và 01 tổ công tác của Ủy ban xã Hội Sơn (cũ) và Ủy ban xã T lên đo đất và giao đất cho ông L và bà H sử dụng (giao miệng, không có văn bản). Đến năm 2016, ông L và bà H tiến hành chặt bỏ toàn bộ phần cây bụi tự nhiên ở phần đất triền đồi thì gặp phải sự cản trở của ông S và xảy ra tranh chấp.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị H trình bày thêm : Nếu việc sử dụng đất của phía gia đình ông S là hợp pháp, được Tòa án chấp nhận. Và gia đình bà H phải trả lại đất thì bà H mong muốn được sử dụng đất đến khi số cây tràm trên đất được 05 năm tuổi, đủ tuổi khai thác (hiện nay tràm mới 03 năm tuổi).

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị H có yêu cầu độc lập như sau: Năm 2022, gia đình bà H tiến hành khai thác số tràm đã trồng trên đất tranh chấp (được trồng năm 2017). Khi khai thác gần hết thì Tòa án yêu cầu giữ nguyên hiện trạng nên còn lại số tràm trên diện tích khoảng 4000 m2 chưa khai thác. Lợi dụng sự việc đó, gia đình ông S đã thu hoạch toàn bộ số cây tràm còn lại của gia đình bà. Nay bà yêu cầu ông S phải trả lại (bồi thường) cho gia đình bà H giá trị số cây mà ông S đã khai thác, trị giá 40 triệu đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Vân; ông Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn T2: Thống nhất như lời trình bày của nguyên đơn.

Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn An, Nguyễn Văn T trình bày: Không rõ về nguồn gốc thửa đất tranh chấp vì lúc bấy giờ còn nhỏ tuổi, khi lớn lên có theo bố mẹ (ông L, bà H) vào canh tác, trồng cây. Nay xảy ra tranh chấp đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Nguyên đơn Nguyễn Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị K trình bày: Không đồng ý với yêu cầu độc lập của bà H về việc đòi bồi thường trị giá số tiền cây đã khai thác. Vì, toàn bộ số tràm mà ông S đã khai thác là do gia đình ông S đã trồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, có vi phạm về thời hạn xét xử. Về nội dung: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại đất lấn chiếm là có căn cứ. Cần buộc bị đơn trả lại một phần thửa đất 362 cho nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn. Tuy nhiên, phía bị đơn đã trồng cây trên đất tranh chấp nên cần giao cho nguyên đơn và người có nghĩa lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn sở hữu cây trồng trên đất và thanh toán trị giá cây trồng cho bị đơn. Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn đòi nguyên đơn bồi thường trị giá số cây mà nguyên đơn đã khai thác. Đề nghị không chấp yêu cầu vì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn không đưa ra được chứng cứ để chứng minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của Tòa án: Ông Nguyễn Văn S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn L trả lại 3,5 ha đất thuộc thửa đất 362, tờ bản đồ số 2, địa danh Khe Nải, xã T, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An đã lấn chiếm trái phép, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, đối tượng tranh chấp là bất động sản có địa chỉ tại địa danh Khe Nải, xã T, huyện Anh Sơn. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác đã có lời khai đề nghị được vắng mặt hoặc ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác là đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi lại đất bị lấn chiếm thấy rằng:

Về nguồn gốc, quá trình sử dụng và tình trạng pháp lý của thửa đất lâm nghiệp số 362, tờ bản đồ số 2, địa danh Khe Nải, xã T, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An:

Theo lời trình bày của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn: Từ năm 1989, ông Nguyễn Văn S và các anh, chị, em trong gia đình (các con của cụ Tửu) đã vào khu vực Khe Nải, xã T để khai hoang. Năm 2002, khi Nhà nước có chủ trương giao đất cho dân nên cụ ông Nguyễn Văn Tửu và cụ bà Nguyễn Thị Thu làm đơn xin cấp đất và được cơ quan có thẩm quyền giao đất. Sau khi được giao đất, các thành viên trong gia đình cụ Tửu cho vợ chồng ông S đứng ra canh tác, ông S tiến hành trồng tràm ở phần đất phía Bắc của thửa 362, riêng phần đất phía Nam (nơi giáp ranh địa giới hành chính giữa 2 xã T và Hoa Sơn) ông S chưa kịp trồng thì bị ông L lấn chiếm vào năm 2016.

Phía bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ về phía bị đơn cho rằng: Từ năm 1996, ông L và một số hộ dân đã khai hoang khu vực đỉnh đồi (vùng đất không tranh chấp) để trồng ngô, lạc; do đất bạc màu năng suất thấp nên có mùa thì trồng đám đất này, đến mùa sau thì chuyển đám đất khác. Một thời gian sau thì các hộ dân khác cũng bỏ hoang nên vợ chồng ông L, bà H tự quản lý và sử dụng. Trong khoảng thời gian từ năm 2002, 2003, thấy phần đất triền đồi (vùng đất đang tranh chấp) không có người trông coi, sử dụng, trên đất chỉ có cây bụi tự nhiên nên vợ chồng ông L, bà H tự khoanh nuôi và bảo vệ. Năm 2003, có 01 cán bộ huyện và 01 tổ công tác của Ủy ban xã Hội Sơn (cũ) và Ủy ban xã T lên đo đất và giao đất cho ông L và bà H (giao miệng, không có văn bản). Đến năm 2016, ông L và bà H chặt bỏ cây bụi tự nhiên trên một phần thửa 362, đến năm 2017 tiến hành trồng tràm trên đất tranh chấp.

Theo Báo cáo số 140/BC-UBND ngày 24/12/2024 của UBND xã T, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An về kết quả xác định nguồn gốc thửa đất số 362 (phần đất có tranh chấp) nói trên, kết luận: (Trích) “Thửa đất 362, tờ bản đồ số 2 có nguồn gốc: (Trích) “Từ năm 1998 - 1999 trở về trước có một số hộ dân hai xã (Hoa Sơn và Tường Sơn) làm rẫy trồng lương thực, nhưng làm nhiều năm đất bạc màu, không hiệu quả nên bỏ hoang, đất trở thành rừng tái sinh. Năm 2001, Nhà nước có chủ trương giao rừng cho nhân dân, khoanh nuôi rừng sản xuất. Tại vùng đất nêu trên có hộ ông Nguyễn Văn Tửu (bố đẻ ông S) có đơn xin nhận đất rừng và được UBND xã T phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền giao đất tại thực địa và lập hồ sơ giao đất. Sau khi được giao đất thì ông S (con ông Tửu) khoanh nuôi, bảo vệ và chăn thả trâu bò, trồng ngô dưới chân đồi. Năm 2016, có một số hộ dân xã H vào sẻ phát để trồng keo và xảy ra tranh chấp, cụ thể có hộ ông Nam và hộ ông L. Ủy ban xã đã vào hiện trường kiểm tra, giải quyết, hộ ông Nam đã thấy sai và không còn tranh chấp, còn hộ ông L thì vẫn liên tục tranh chấp, ủy ban xã đã nhiều lần làm việc giải quyết, hòa giải nhưng không thành”.

Qua công tác xem xét tại chỗ và định giá tài sản xác định được như sau:

Thửa đất 362, tờ bản đồ số 2, địa danh Khe Nải, xã T có diện tích đo thực tế là 56.465 m2. Tuy nhiên, tại sổ mục kê đất và các tài liệu về giao đất thể hiện diện tích là 71.960 m2. Như vậy, diện tích thực tế chênh lệch (nhỏ hơn) diện tích ghi tại sổ sách là 15.465 m2.

Thửa đất 362 có vị trí như sau:

- Phần đất phía Bắc thửa 362 (gia đình ông S đang sử dụng, không có tranh chấp) có vị trí: Bắc giáp thửa 332, Đông giáp đất của các hộ dân xã H đang sử dụng đất; Nam giáp phần đất còn lại của thửa 362 (phần đang tranh chấp, gọi là là phần đất phía Nam), ranh giới giữa phần đất phía Bắc và phần đất phía Nam là con đường; Phía Tây giáp thửa 332, ranh giới giữa phần đất phía Bắc và thửa 332 là con đường. Diện tích 23.011 m2, hiện nay do gia đình ông S đang quản lý và sử dụng.

- Phần đất phía Nam thửa 362 (phần đất đang tranh chấp với ông Nguyễn Văn L) có vị trí:

  • + Phía Đông giáp đất của các hộ dân xã H đang sử dụng, giáp địa giới hành chính giữa 2 xã H và Tường Sơn, dài 252 m
  • + Phía Tây giáp thửa 361, dài 145,7 m
  • + Phía Nam giáp thửa 372, dài 251,15m
  • + Phía Bắc giáp phần đất còn lại của thửa 362 (phần không tranh chấp, gọi là phần đất phía Bắc), ranh giới giữa phần đất phía Nam và phần đất phía Bắc là con đường), có độ dài 103,35 m

Diện tích phần đất phía Nam (đất đang tranh chấp) là: 23.638 m2 – trị giá 125.928.000 đồng. Theo lời khai của ông L bà H thì đây là phần đất được ông L, bà H tự khoanh nuôi, bảo vệ trong khoảng thời gian từ năm 2002 – 2003, khi thấy đất không có người trông coi. Năm 2016, ông L và bà H chặt bỏ toàn bộ cây tự nhiên và tiến hành trồng keo trên toàn bộ đất tranh chấp. Hiện nay, trên một phần diện tích (11.733 m2) đất tranh chấp đang có cây keo tràm 03 năm tuổi, trị giá 46.932.000 đồng, do gia đình ông L đã trồng.

Tiếp giáp về phía Nam phần đất tranh chấp là thửa đất 372 (phần đất bằng ở đỉnh đồi) là đất thuộc UBND xã H quản lý. Trên đất đang có cây keo 03 năm tuổi do gia đình ông L trồng (phần đất này không tranh chấp với gia đình ông S). Theo lời khai của ông L, bà H thì đây là phần đất mà gia đình đã khai hoang từ năm 1996 là vùng đất bằng phẳng ở đỉnh đồi.

Hội đồng xét xử xét thấy: Thửa đất số lâm nghiệp số 362, tờ bản đồ số 2, địa danh Khe Nải, xã T, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An được cơ quan có thẩm quyền giao cho hộ cụ Nguyễn Văn Tửu vào năm 2002, khi thực hiện chủ trương của Nhà nước giao rừng cho nhân dân. Việc giao đất được thực hiện trên thực địa và lập hồ sơ giao đất (thể hiện tại các tài liệu: Biên bản giao đất lâm nghiệp ngoài thực địa ngày 12/11/2002; biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 12/11/2002; sổ danh sách gia đình, cá nhân được giao đất lập ngày 25/12/2002, sổ mục kê đất 2003). Sau khi được giao đất, gia đình cụ Tửu cho ông Nguyễn Văn S (con đẻ cụ Tửu) đứng ra canh tác, ông S tiến hành trồng keo tràm ở vùng đất phía Bắc thửa 362. Riêng phần đất phía Nam thửa 362, ông S mới chỉ sử dụng trồng màu phía chân đồi, vùng triền đồi là các loại cây bụi tự nhiên ông S chỉ bảo vệ và khai thác củi. Năm 2016, gia đình ông L tiến hành chặt bỏ toàn bộ cây tự nhiên, tiến hành trồng keo trên vùng đất triền đồi thuộc phần đất phía Nam thửa 362 thì gặp phải sự phản đối của gia đình ông S nên hai bên xảy ra tranh chấp cho đến nay. Gia đình ông L cho rằng đã được đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất vào năm 2003 nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Việc gia đình ông L tự ý chặt bỏ các loại cây tự nhiên để lấn chiếm phần đất phía Nam thửa 362 (phần đất triền đồi) vào năm 2016 là trái pháp luật. Do đó, cần buộc ông L và bà H phải trả lại 23.638 m2 đất đã lấn chiếm cho những người thừa kế của cụ Nguyễn Văn Tửu.

Phần đất ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H phải trả cho những người thừa kế của cụ Nguyễn Văn Tửu và cụ Nguyễn Thị Thu có vị trí như sau:

  • + Phía Đông giáp đất của các hộ dân xã H đang sử dụng, giáp địa giới hành chính giữa 2 xã H và Tường Sơn, dài 252 m
  • + Phía Tây giáp thửa 361, dài 145,7 m
  • + Phía Nam giáp thửa 372, dài 251,15m
  • + Phía Bắc giáp phần đất còn lại của thửa 362 (phần không tranh chấp, gọi là phần đất phía Bắc), ranh giới giữa phần đất phía Nam và phần đất phía Bắc là con đường), có độ dài 103,35 m

Diện tích: 23.638 m2, trị giá 125.928.000 đồng.

Trên đất tranh chấp hiện có 11.733 m2 cây tràm 03 năm tuổi, trị giá 46.932.000 đồng do gia đình ông L đã trồng. Về nguyên tắc, gia đình ông L phải di dời cây để trả lại mặt bằng phần đất đã lấn chiếm trái phép. Tuy nhiên, để tránh thiệt hại cho đương sự cần giao toàn bộ cây trên đất cho phía nguyên đơn sở hữu và phía nguyên đơn có nghĩa vụ thanh toán trị giá cây trên đất cho phía bị đơn.

[2.2] Xét yêu cầu độc lập của người có quyền, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H về việc đòi nguyên đơn bồi thường trị giá cây mà phía bà H đã trồng do nguyên đơn đã khai thác, thấy rằng:

Ý kiến phía bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Năm 2022, gia đình bà H tiến hành khai thác số tràm đã trồng trên đất tranh chấp (được trồng năm 2017). Khi khai thác gần hết thì Tòa án yêu cầu giữ nguyên hiện trạng nên còn lại số tràm trên diện tích khoảng 4000 m2 chưa khai thác. Lợi dụng sự việc đó, gia đình ông S đã thu hoạch toàn bộ số cây tràm còn lại của gia đình bà. Nay bà H yêu cầu ông S phải bồi thường cho gia đình bà H giá trị số cây mà ông S đã khai thác với giá 40 triệu đồng.

Ý kiến phía nguyên đơn: Không đồng ý với yêu cầu của bà H về việc đòi bồi thường trị giá số tiền cây đã khai thác. Bởi vì, toàn bộ số tràm mà ông S đã khai thác là do gia đình ông S đã trồng.

Qua công tác xem xét tại chỗ và định giá tài sản xác định được như sau: Phần diện tích có tranh chấp về cây (không tranh chấp về đất) có diện tích 3.836 m2, đất thuộc thửa 361, chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị Phước, công dân thôn 8, xã T, huyện Anh Sơn. Phần đất trên bà Phước cho ông S mượn để canh tác, sản xuất vào năm 2016. Số cây mà ông S đã khai thác có đường kính nhỏ nhất là 04 cm, loại lớn nhất có đường kính 28 cm, loại trung bình 15 cm, mật độ bình quân 02m2/cây. Diện tích cây mà ông S đã khai thác là 2.180 m2 (trị giá cây đã khai thác là 13.080.000 đồng), diện tích cây còn lại là do gia đình ông L đã khai thác.

Qua xác minh tại những người làm chứng do các đương sự cung cấp: Bà Lê Thị Kỳ, bà Nguyễn Thị Quý, anh Lê Quốc Quế đều thừa nhận đã được ông Nguyễn Văn S thuê trồng cây vào quãng thời gian tháng 8, tháng 9/2016. Những người trên đều xác định được đúng vị trí mà bản thân họ đã được ông S thuê trồng cây tại phần đất mà ông S đã mượn của bà Phước. Đối với những người làm chứng do bà H cung cấp thì bà Nguyễn Thị Lương chỉ thừa nhận vào năm 2016, đã được bà H thuê trồng cây nhưng không nhớ được vị trí cụ thể mà bản thân đã trồng, 02 người còn lại không có mặt tại địa phương. Bà Nguyễn Thị H không đưa ra được chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được. Do đó, cần bác yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu nguyên đơn phải bồi thường trị giá số cây keo tràm mà nguyên đơn đã khai thác.

Tiếp giáp thửa 362 về phía Tây là một phần thửa đất 361 – tờ bản đồ số 2, địa danh Khe Nải, xã T được quy chủ cho bà Nguyễn Thị Phước (địa chỉ: Thôn 8, xã T, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An) được định vị tại các điểm 12, 13, 13A, 15A, 8A, 9, 15, 12 (có sơ đồ kèm theo bản án), phần đất này bà Phước cho ông Nguyễn Văn S mượn để canh tác. Tuy nhiên, phía bị đơn cho rằng đây là đất Nhà nước đã giao cho bị đơn vào năm 2003, tại Tòa án bà Nguyễn Thị Phước không có yêu cầu gì nên Tòa không xét.

Qua công tác xem xét tại chỗ phát hiện được: Phần đất phía Đông thửa 362 nơi tiếp giáp với đất đang tranh chấp (được quy chủ cho hộ cụ Nguyễn Văn Tửu) được định vị tại các điểm 1. 2, 3 (có sơ đồ kèm theo bản án) hiện tại đang do bà Bùi Thị Quỳ (địa chỉ: Thôn 6, xã H, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An) sử dụng. Tuy nhiên, bà Quỳ và ông S đều xác nhận hai bên không có tranh chấp, ranh giới trên thực địa đã được các bên xác định cụ thể, ông Nguyễn Văn S không có yêu cầu gì nên Tòa không xét.

[2.3] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[2.4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

  • - Khoản 9 Điều 26; Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 157, 164 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 164, 166, 274, 280, 609, 613, 651 BLDS năm 2015;
  • - Các Điều 4, 11, 26, Luật Đất đai 1993;
  • - Các Điều 26, 236 Luật Đất đai 2024;
  • - Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Nguyễn Văn S về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bị đơn Nguyễn Văn L;

[2]. Buộc ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lại cho các cá nhân, gồm: Ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Vân; ông Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn T2 một phần thửa đất 362 tờ bản đồ số 2, địa danh Khe Nải, xã T, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Phần đất phải trả có diện tích 23.638 m2, trị giá 125.928.000 đồng. Phần đất phải trả được định vị bằng các điểm từ: 1-2-3-4-5-6-7-8-8A-15A-13A-14-1. Chiều dài nối các điểm như sau:

1 – 2 = 84,40 m 2 – 3 = 80,90 m 3 – 4 = 86,70 m
4 – 5 = 30,30 m 5 – 6 = 93,33 m 6 – 7 = 54 m
7 – 8 = 41,90 m 8 – 8A = 31,62 m 8A-15A = 27,50m
15A – 13A = 118,20 m 13A – 14 = 27,55m 14 – 1 = 75,80 m

(Có sơ đồ kèm theo bản án)

Tạm giao cho ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Vân; ông Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn T2 sử dụng phần đất nêu trên.

[3]. Giao cho ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Vân; ông Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn T2 có quyền sở hữu cây keo tràm trồng tập trung trên diện tích 11,733 m2 thuộc một phần đất thửa 362, trị giá 46.932.000 đồng. Diện tích đất có cây keo tràm được định vị bằng các điểm từ: 2-3-4-5-6-7-8-8A-15A-2. Chiều dài nối các điểm như sau:

2 – 3 = 80,90 m 3 – 4 = 86,70 m 4 – 5 = 30,30 m
5 – 6 = 93,33 m 6 – 7 = 54 m 7 – 8 = 41,90 m
8 – 8A = 31,62 m 8A - 15A = 27,50 m 15A - 2 = 139,80m

(Có sơ đồ kèm theo bản án)

Các ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Vân; ông Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn T2 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H số tiền 46.932.000 đồng trị giá số cây keo tràm. Chia kỷ phần mỗi người phải thanh toán là: 5.866.000 đồng.

Ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H được sở hữu số tiền 46.932.000 đồng do ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Vân; ông Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn T2 thanh toán.

[4]. Bác yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị H yêu cầu ông Nguyễn Văn S phải bồi thường số tiền 40.000.000 đồng giá trị số cây mà ông S đã khai thác.

[5]. Về án phí và các chi phí tố tụng.

Về án phí: Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn S 300.000 đồng tạm ứng án phí (Đã nộp theo biên lai số 0005469 ngày 17/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn).

Ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H phải chịu 6.296.000 đồng án phí DSST do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Bà Nguyễn Thị H phải chịu 2.000.000 đồng án phí DSST do yêu cầu độc lập không được chấp nhận (Bà Nguyễn Thị H đã nộp 1.500.000 đồng tạm ứng án phí dân sự theo biên lai số 0000332 ngày 06/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn).

Các đương sự Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Vân; Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn T2 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí DSST về trị giá số cây keo tràm được giao.

Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn S tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (ông S đã đã nộp đủ chi phí).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu bên phải thi hành án chưa thực hiện xong nghĩa vụ phải thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND huyện Anh Sơn
  • - Chi cục THADS huyện Anh Sơn
  • - Các đương sự
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Khắc Dân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 06/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông S đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Văn L trả lại 3,5 ha đất lấn chiếm thuộc thửa đất 362, tờ bản đồ số 2, địa danh Khe Nải, xã T, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An cho gia đình ông S.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger