Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VÂN ĐỒN

TỈNH QUẢNG NINH

 

Bản án số: 06/2025/DS-ST

Ngày: 11/6/2025

“V/v Tranh chấp về quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: bà Dương Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: 1. ông Phạm Văn Bé

2. bà Hoàng Thị Minh Tâm

Thư ký phiên toà: ông Hoàng Văn Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên Tòa: bà Mạc Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2024/TLST- DS ngày 27 tháng 11 năm 2024, về việc: “Tranh chấp Quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QÐST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2025; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị B - sinh năm 1957 và ông Đặng Văn H - sinh năm 1953; cùng địa chỉ: số A đường T, TDP A, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B và ông Đặng Văn H: Công ty L5, Quyết định phân công ông Ngô Văn P - thành viên Công ty L5, thực hiện công việc theo uỷ quyền (Giấy uỷ quyền ngày 12/11/2024); có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị B và ông Đặng Văn H: bà Nguyễn Thị M và bà Trần Thị Thùy L - Luật sư Công ty L5; có mặt.

- Bị đơn: bà Nguyễn Thị Bạch T - sinh năm 1964; địa chỉ: tổ H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (không có lý do).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Thị P1 - sinh năm 1975; địa chỉ: tổ C, khu L, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (không có lý do);
  • + Ông Phạm Xuân L1 - sinh năm 1976; bà Lưu Thị L2, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ C, khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (đều có đơn đề nghị được vắng mặt);
  • + Chị Hoàng Thị Thu N - sinh năm 1982; địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (không có lý do).
  • + Chị Hoàng Thị Phương T1 - sinh năm 1983; địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (không có lý do).
  • + Chị Hoàng Thị Đài T2 - sinh năm 1989; địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (không có lý do).
  • + Chị Hoàng Thị Ngọc H1 – sinh năm 1985; địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (không có lý do).
  • + Chị Hoàng Thị Như N1 - sinh năm 1993; địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (không có lý do).
  • + Anh Hoàng Đình Việt A - sinh năm 2002; địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (không có lý do).

- Người làm chứng:

  • + Ông Phạm Văn C; địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn đề nghị được vắng mặt);
  • + Bà Nguyễn Thị H2; địa chỉ: tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị được vắng mặt);
  • + Đặng Thị O; địa chỉ: tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị được vắng mặt);
  • + Bà Nguyễn Thị M; địa chỉ: A, đường C, tổ H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị được vắng mặt);
  • + Bà Đặng Thị T3; địa chỉ: A, tổ A, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng vắng mặt (có đơn đề nghị được vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Nguyên đơn và Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị B là chị gái ruột của bà Nguyễn Thị Bạch T, ông Đặng Văn H là chồng bà B và là anh rể của bà T. Bà B và ông H sinh sống và làm việc tại Anh Q từ năm 1981. Đầu năm 2011 ông H bà B đã về Việt Nam tìm hiểu đầu tư. Qua tìm hiểu ông, bà đã nhận chuyển nhượng 03 thửa đất tại khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh. Do vào thời điểm này pháp luật Việt Nam không cho người Việt Nam định cư tại nước ngoài đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt: GCNQSDĐ) nên ông, bà nhờ bà T đứng tên hộ 03 thửa đất bằng tiền của ông H, bà B mua:

  • - Thửa đất thứ nhất: thửa số BT1, ô số 17, diện tích 193,5m², địa chỉ: khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh đã được Uỷ ban nhân dân (viết tắt: UBND) huyện V cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 136220 số vào sổ cấp GCN: 3787 ngày 25/5/2011 mang tên Nguyễn Thị Bạch T.
  • - Thửa đất thứ hai: thửa số 15 - BT7, diện tích 173,7m² tại địa chỉ: khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh đã được UBND huyện V cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 136202, số vào sổ cấp GCN: 3779 ngày 18/5/2011 mang tên Nguyễn Thị Bạch T.
  • - Thửa đất thứ ba: thửa số 14 -BT7, diện tích 173,7m² tại địa chỉ: khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh đã được UBND huyện V cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 136203, số vào sổ cấp GCN: 3778 ngày 18/5/2011 mang tên Nguyễn Thị Bạch T.

Sau khi làm thủ tục đứng tên hộ, bà T đã giao toàn bộ 03 GCNQSDĐ đối với 3 thửa đất nêu trên cho vợ chồng ông H, bà B quản lý.

Năm 2015, bà T lập bản cam kết tại UBND thị trấn C (có xác nhận của UBND thị trấn C) xác nhận 03 thửa đất trên là tiền của vợ chồng bà B, ông H nhận chuyển nhượng, bà T chỉ là người đứng tên hộ chị gái (là bà Nguyễn Thị B) trong GCNQSDĐ. Bà T cũng cam kết không chuyển nhượng, cầm cố nếu không có sự đồng ý của bà Nguyễn Thị Bích .

Nay bà B, ông H về Việt Nam làm ăn và nhiều lần yêu cầu bà T sang tên trả lại ba thửa đất nêu trên cho bà B, ông H nhưng bà T không đồng ý trả lại.

Ông H đề nghị giao 1/2 giá trị quyền sử dụng của 03 thửa đất nêu trên, thuộc quyền sử dụng đất của ông H trong khối tài sản có chung với bà B (03 thửa đất đang yêu cầu giải quyết) cho bà B toàn quyền sử dụng, vì ông H thời gian tới không ở Việt Nam lâu dài nên không quản lý sử dụng được. Bà B đồng ý nhận 1/2 giá trị quyền sử dụng của 03 thửa đất nêu trên, thuộc quyền sử dụng đất của ông H giao quyền sử dụng cho bà.

Bà B, ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Công nhận Bản cam kết ngày 18/11/2015, giữa người cam kết bà Nguyễn Thị Bạch T với người được cam kết bà Nguyễn Thị B có hiệu lực;
  • - Xác định ba thửa đất (nêu trên) mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Nguyễn Thị B (vì ông Đặng Văn H đã cho lại toàn quyền sử dụng đất 1/2 03 thửa đất trên của ông H cho bà Nguyễn Thị B); Bà Nguyễn Thị B có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất đối với ba thửa đất (nêu trên) theo quy định của pháp luật.
  • - Bà Nguyễn Thị Bích tự N2 chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho tất cả các đương sự trong vụ án.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Bạch T trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà T nhưng bà T đều vắng mặt không có lý do và không có quan điểm trình bày về nội dung vụ án.

* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có lời khai:

Bà Nguyễn Thị P1 có lời khai: tháng 5/2011, bà P1 có chuyển nhượng cho ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị Bích T4 đất số BT1, ô số 17, diện tích 193,5 m² tại khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh với giá 7.200.000 đồng/m². Tổng giá trị tài sản là 1.393.200.000 đồng (một tỷ ba trăm chín mươi ba triệu hai trăm nghìn đồng). Ông H đã đặt cọc trước số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), sau đó một tuần sau thì đã thanh toán đầy đủ số tiền còn lại cho bà P1. Sau khi ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị B thanh toán đầy đủ, bà P1 đã giao cho ông H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính. Toàn bộ thủ tục sang tên giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do ông H và B làm nên sau đó bà không nắm được quá trình làm như thế nào và không biết chuyện gì xảy ra giữa gia đình ông H, bà B với bà Nguyễn Thị Bạch T.

Ông Phạm Xuân L1 và bà Lưu Thị L2 có lời khai: tháng 5/2011, ông L1, bà L2 có chuyển nhượng cho ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị Bích H3 thửa đất:

  1. Thửa đất số 15, BT7, diên tích 173,7 m² tại khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh.
  2. Thửa đất số 14, BT7, diện tích 173,7 m² tại khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh.

Cả hai thửa đất trên ông L1, bà L2 chuyển nhượng cho ông H và bà B với giá 5.250.000 đồng/m². Ông H và bà B là người đã thanh toán đầy đủ số tiên giao dịch với ông L1, bà L2, quá trình vợ chồng ông L1, bà L2 nhận tiền có anh Phạm Văn C, sinh năm: 1961, đia chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyên V, tỉnh Quảng Ninh làm chứng sự việc ông H, bà B trả tiền mua quyền sử dụng 02 thửa đất trên cho vợ chồng ông L1, bà L2. Do ông H và bà B lúc đó đang ở nước ngoài, có quốc tịch nước ngoài nên đã nhờ bà Nguyễn Thi Bạch T5 là em gái ruột của bà B đứng tên hộ.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Hoàng Thị Thu N, chị Hoàng Thị Phương T1, chị Hoàng Thị Ngọc H1, chị Hoàng Thị Đài T2, chị Hoàng Thị Như N1 và Hoàng Đình Việt A (là con của bà Nguyễn Thị Bạch T và ông Hoàng Đình N3): trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trên nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có quan điểm trình bày về nội dung vụ án.

* Người làm chứng bà Nguyễn Thị H2 khai: bà H2 là chị em ruột cùng bố cùng mẹ với bà Nguyễn Thị B và bà Nguyễn Thị Bạch T, ông Đặng Văn H là anh rể (chồng của bà B) .

Bà H2 biết ông H, bà B từ A Q về Việt Nam và được anh C có quen biết với ông H, bà B giới thiệu dẫn dắt để ông H, bà B mua đất ở huyện V, tỉnh Quảng Ninh vào khoảng năm 2011, và qua sự dẫn dắt của anh C (người Cái Rồng). Tuy nhiên thời gian đó ông H, bà B là người nước ngoài không được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên phải nhờ người đứng tên hộ. Trong ngày bà H2 và anh H, chị B, bà T, chị T6 (em dâu lấy con bà cô của bà H2) đi lễ Chùa Hương về nhà bà T6 ăn cơm thì anh H chị B có nhờ tôi sáng hôm sau đi cùng anh H, chị B ra C để đứng tên hộ 03 thửa đất tại khu đô thị T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh và bà có đồng ý. Nhưng sau đó, buổi chiều bà H2 nhận được điện thoại của chồng bà gọi về bán hàng nên bà đi về và có nói với anh H, chị B là không biết hôm sau có đi được không vì tàu nhà bà về rất nhiều hàng. Vì vậy, ông H, bà B đã nhờ bà T đứng tên hộ 03 thửa đất tại Cái R. Khi ông H, bà B muốn bán nhưng bà T có nói khi nào có người mua thì đưa giấy nhận đặt cọc, bà T sẽ ký sang tên cho người mua. Ông H bà B có yêu cầu sang tên lại 03 thửa đất ở Cái Rồng trả cho ông H bà B nhưng bà T không đồng ý. Tôi đã 03 (ba) lần vào gặp bà T để khuyên nhủ bà T trả lại đất cho bà B, ông H nhưng bà T không đồng ý. Mẹ tôi (là bà Nguyễn Thị L3) cũng khuyên nhủ bà T nhưng không được.

* Người làm chứng bà Đặng Thị O khai: bà O là chị em con cô con bác với bà Nguyễn Thị B và bà Nguyễn Thị Bạch T (mẹ bà O và bố của bà B, bà T là hai anh em ruột).

Bà O biết ông H, bà B từ A Q về Việt Nam và được anh Phạm Văn C có quen biết với ông H, bà B giới thiệu dẫn dắt để ông H, bà B mua đất ở V, Quảng Ninh vào khoảng năm 2011, và qua sự dẫn dắt của anh C (người Cái Rồng). Tuy nhiên thời gian đó ông H, bà B là người nước ngoài không được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên phải nhờ người đứng tên hộ.

Bà O được chính bà T khoe với bà là vợ chồng ông H, bà B mua đất ở thị trấn C và nhờ bà T đứng tên nên bà biết. Ngoài ra khi ra nhà ông C thì ông C cũng khoe với bà rằng ông H, bà B đã mua 03 mảnh đất ở thị trấn C. Ông C khoe chính ông là người giúp ông H bà B tìm mua đất ở thị trấn C nên bà biết được việc mua đất của ông H bà B và nhờ bà T đứng tên hộ. Bà O và các chị em của bà T cũng đã khuyên bà T nhiều lần về việc trả lại tài sản cho ông H bà B nhưng bà T không nghe.

* Người làm chứng bà Nguyễn Thị M, bà Đặng Thị T3 khai: bà Nguyễn Thị M (là em ruột của bà Nguyễn Thị B và bà Nguyễn Thị Bạch T) và bà Đặng Thị T3 (là con cô con bác với bà Nguyễn Thị B và bà Nguyễn Thị Bạch T (mẹ bà T3 và bố bà T bà B là anh em ruột) có cùng lời khai: bà M và bà T3 đều là người gần gũi với bà B bà T, biết rõ những nội dung thỏa thuận của bà B, bà T. Năm 2015, bà B và ông H có ra nhà người quen ở thị trấn C, huyện V và nghe người quen nói đất ở C có thể đầu tư được nên quyết định mua đất ở thị trấn C, huyện V. Bà B và bà T có kể với bà M và bà T3 đã mua 03 mảnh đất ở C và nhờ bà T đứng tên hộ.

* Người làm chứng ông Phạm Văn C khai: ông là người sinh sống ở huyện V, ông C có quen biết với vợ chồng ông Phạm Xuân L1 và bà Lưu Thị Lâm .1 Ông C là người giới thiệu cho ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị Bích N4 chuyển nhượng đất của vợ chồng ông L1, bà L2 gồm 02 thửa đất số 14 - BT7 diện tích 173,7m² và thửa đất số 15 - BT7 diện tích 173,5m²; địa chỉ 02 thửa đất tại: khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh. Giá chuyển nhượng là 5.250.000đ/m² . Thời điểm giao dịch hai thửa đất trên khoảng tháng 5/2011. Khi giao dịch ông C trực tiếp chứng kiến vợ chồng ông H, bà B giao tiền cho ông L1, bà L2. Do vợ chồng ông H, bà B đang sinh sống tại Anh Q nên không thể đứng tên trên GCNQSDĐ nên đã nhờ em gái là bà Nguyễn Thị Bạch T đứng tên hộ. Sau đó, mọi thủ tục giấy tờ đều đứng tên bà T nhưng thực tế đất là do ông bà H, Bích nhận chuyển nhượng và trả tiền. Ông C là người trông nom cả hai thửa đất trên và một thửa đất nữa là thửa BT1, ô số 17, diện tích 193,5m² tại khu H, thị trấn C, huyện V cho đến bây giờ. Từ tháng 5/2011 cho đến nay vợ chồng ông H, bà B thường xuyên liên lạc với ông C để hỏi thăm tình hình hiện trạng các thửa đất trên.

* Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 20/02/2025

Hiện trạng thửa đất mang tên bà Nguyễn Thị P1 đã chuyển nhượng mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T số BT1, ô số 17, diện tích 193,5 m2 tại địa chỉ khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh đã được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri BE 136220, số vào số cấp GCN: 3787 ngày 25/5/2011 mang tên Nguyễn Thị Bạch T. Địa chỉ thửa đất tại: khu đô thị V, huyện V, tỉnh Quảng Ninh.

  • + Vị trí thửa đất: phía đông nam tiếp giáp đường, phía tây nam tiếp giáp đất ông Huỳnh Văn H4, phía tây bắc tiếp giáp cống, phía đông bắc không xác định được địa chỉ.
  • + Kích thước thửa đất: G - H: 12m; H - I: 16,125m; I - J: 12m; J - G: 16,125m (đo bằng máy toàn đạc).
  • + Tài sản trên đất: móng tường xây làm rào bao quanh thửa đất cố định đoạn GH = IJ = 12m; đoạn HI = JG = 16,125m.
  • - Hiện trạng thửa đất mang tên ông Phạm Xuân L1 và bà Lưu Thị L2 đã chuyển nhượng mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T số 15-BT7, diện tích 173,7 m2 tại địa chỉ khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh đã được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri BE 136202, số vào số cấp GCN: 3779 ngày 18/5/2011 mang tên Nguyễn Thị Bạch T.
  • + Vị trí thửa đất: phía tây nam tiếp giáp đất nhà ông Hoàng Tiến H5, phía đông bắc không xác định được chủ, phía tây bắc tiếp giáp đường, phía đông nam tiếp giáp cống.
  • + Kích thước thửa đất: A - B: 9,53m; B - E: 18,23m; E - F: 9,53m; F - A: 18,23m (đo bằng máy toàn đạc).
  • + Tài sản trên đất: móng tường xây làm rào bằng gạch xi măng bao quanh thửa đất cố định đoạn AB = EF = 9,53m; đoạn EB = FA = 18,23m.
  • - Hiện trạng thửa đất mang tên ông Phạm Xuân L1 và bà Lưu Thị L2 đã chuyển nhượng mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T số 14-BT7, diện tích 173,7m2 tại địa chỉ khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh đã được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri BE 136203, số vào số cấp GCN: 3778 ngày 18/5/2011 mang tên Nguyễn Thị Bạch T.
  • + Vị trí thửa đất: phía tây nam tiếp giáp đất nhà ông Hoàng Tiến H5, phía đông bắc không xác định được chủ, phía tây bắc tiếp giáp đường, phía đông nam tiếp giáp cống.
  • + Kích thước thửa đất: B - C: 9,53m; C - D: 18,23m; D - E: 9,53m; E - B: 18,23m (đo bằng máy toàn đạc).
  • + Tài sản trên đất: móng tường xây làm rào bằng gạch xi măng bao quanh thửa đất cố định đoạn BC = DE = 9,53m; đoạn CD = EB = 18,23m.

Tất cả tường rào xây bằng gạch xi măng bao quanh 03 thửa đất (thửa đất BT1 - ô số 17; thửa đất BT7 - ô số 15; thửa đất BT7 - ô số 14) đều có chiều cao 50cm.

* Ý kiến của UBND thị trấn C, huyện V: 03 thửa đất Tòa án xem xét thẩm định trong vụ án ngoài có tranh chấp tại Tòa án thì không có tranh chấp với ai. Năm 2023, UBND huyện V đã có nội dung chỉ đạo kiểm tra giải quyết các vướng mắc liên quan đến ranh giới, tọa độ của các ô đất thuộc khu đô thị ven biển thị trấn C, huyện V đã mời đủ thành phần chuyên môn tham gia, kiểm tra tổng thể, kiểm tra định vị các ô đất tại thực địa, đã tiến hành cắm mốc giới ô đất của các ô chưa xây dựng bằng các mốc tường xây gạch đã đảm bảo kích thước diện tích ô theo quy hoạch trong đó có 03 thửa đất là 03 ô đang tranh chấp Tòa án đang giải quyết đã được đảm bảo kích thước và diện tích.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

  • - Về thủ tục tố tụng: thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án và xác định mối quan hệ tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng; việc thu thập chứng cứ: đảm bảo đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự; Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; các đương sự trong vụ án chấp hành tốt quy định của pháp luật; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Bị đơn bà Nguyễn Thị Bạch T và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Hoàng Thị Thu N, chị Hoàng Thị Phương T1, chị Hoàng Thị Ngọc H1, chị Hoàng Thị Đài T2, chị Hoàng Thị Như N1 và Hoàng Đình Việt A và bà Nguyễn Thị P1 đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; ông Phạm Xuân L1, bà Lưu Thị L2 vắng mặt tại phiên Tòa đã có lời khai và có đơn xin phép vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  • - Về nội dung vụ án: căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự cũng như kết quả tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn;
  • Ông Đặng Văn H đề nghị giao 1/2 giá trị quyền sử dụng của 3 thửa đất nêu trên (03 thửa đất đang yêu cầu giải quyết), thuộc quyền sử dụng đất của ông H trong khối tài sản có chung với bà B cho bà B toàn quyền sử dụng; bà B đồng ý chấp nhận đề nghị của ông H. Xét thấy đây là quyền tự định đoạt của ông H, bà B phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông H, bà B.

NHẬN THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở trình bày của các đương sự, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án: Công nhận Bản cam kết ngày 18/11/2015, giữa bà Nguyễn Thị Bạch T với bà Nguyễn Thị B có hiệu lực và xác định 03 thửa đất có địa chỉ tại khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh đã được UBND huyện V cấp GCNQSDĐ mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T thuộc quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị B;

Quan hệ tranh chấp của Nguyên đơn trong vụ án là tranh chấp về quyền sử dụng đất, được quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn là cơ quan có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Bạch T và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Hoàng Thị Thu N, chị Hoàng Thị Phương T1, chị Hoàng Thị Ngọc H1, chị Hoàng Thị Đài T2, chị Hoàng Thị Như N1 và Hoàng Đình Việt A và bà Nguyễn Thị P1 đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Phạm Xuân L1, bà Lưu Thị L2 vắng mặt tại phiên Tòa đã có lời khai và có đơn xin phép vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Nguyên đơn yêu cầu công nhận Bản cam kết ngày 18/11/2015 giữa người cam kết bà Nguyễn Thị Bạch T với người được cam kết bà Nguyễn Thị B có hiệu lực; Xác định 03 thửa đất: thửa số BT1, ô số 17, diện tích 193,5m²; thửa số 15 - BT7, diện tích 173,7m²; thửa số 14 - BT7, diện tích 173,7m², đều có địa chỉ tại khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, đã được UBND huyện V cấp GCNQSDĐ mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị B và ông Đặng Văn H.

2.1. Xét về nguồn gốc 3 thửa đất tranh chấp nêu trên: Đầu năm 2011 ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị Bích N4 chuyển nhượng 03 thửa đất tại khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh là:

  • - Thửa đất thứ nhất chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị P1: thửa số BT1, ô số 17, diện tích 193,5m² tại địa chỉ: khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh đã được UBND huyện V đã Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số seri BE 136220 số vào sổ cấp GCN: 3787 ngày 25/5/2011 mang tên Nguyễn Thị Bạch T.
  • - Thửa đất thứ hai chuyển nhượng từ ông Phạm Xuân L1 và bà Lưu Thị L2: thửa số 15-BT7, diện tích 173,7m² tại địa chỉ: khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh đã được UBND huyện V đã Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số seri BE 136202, số vào sổ cấp GCN: 3779 ngày 18/5/2011 mang tên Nguyễn Thị Bạch T.
  • - Thửa đất thứ ba chuyển nhượng từ ông Phạm Xuân L1 và bà Lưu Thị L2: Thửa số 14-BT7, diện tích 173,7m2 tại địa chỉ Khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh đã được UBND huyện V đã Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số seri BE 136203, số vào sổ cấp GCN: 3778 ngày 18/5/2011 mang tên Nguyễn Thị Bạch T.

Do vào thời điểm này pháp luật Việt Nam không cho người Việt Nam định cư tại nước ngoài đứng tên GCNQSDĐ nên ông H, bà B có nhờ bà Nguyễn Thị Bạch T đứng tên hộ 03 thửa đất trên bằng tiền của ông H, bà B mua. Làm thủ tục đứng tên hộ xong, bà T đã giao toàn bộ 03 GCNQSDĐ trên cho vợ chồng ông H, bà B quản lý.

2.2. Tại Bản cam kết ngày 18/11/2015 tại ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng giữa bà Nguyễn Thị Bạch T và bà Nguyễn Thị B có nội dung:

“Chi ruột tôi là: Nguyễn Thị B, sinh ngày 15/10/1957; hộ chiếu số N 1743567, do Đ tại Liên hiệp Vương quốc Anh và B len cấp ngày 17/5/1915... Hiện nay sống và làm việc ở nước ngoài (Anh Q) Trong thời gian làm việc tại Anh Q chị tôi có gửi cho tôi một số tiền về để mua 5 thửa đất.

Thửa thứ nhất: Thửa đất số 15-BT7, diện tích 173,7m², địa chỉ: khu 8 thi trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh: được UBND huyện V, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 18/5/2011, do ông Lê Quang T7 (Phó Chủ tịch UBND huyện ký) người đứng tên thửa đất là Nguyễn Thị Bạch T...

Thửa thứ ba: Thửa đất số BT1, số A, diên tích 193,5m². địa chỉ: Khu H thị trấn C, tỉnh Quảng Ninh; được UBND huyện V, tỉnh Quảng Ninh, cấp ngày 25/5/2011, do ông Lê Quang T7 (Phó Chủ tịch UBND huyện ký) người đứng tên thửa đất là Nguyễn Thi Bạch T5.

Thửa thứ tư: Thửa đất số 14-BT7. diện tích 173,7m², địa chỉ: khu H thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; được UBND huyện V, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 18/5/2011, do ông Lê Quang T7 (Phó Chủ tịch UBND huyện ký) người đứng tên thửa đất là Nguyễn Thi Bạch T5.

Bốn thửa đất nói trên là do chị tôi gửi tiền về cho vợ chồng tôi mua mà chỉ đứng tên hộ chị gái trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được chuyển nhượng, cầm cố nếu không được sự đồng ý của chị gái tôi...Vậy để đảm bảo quyền lợi và sở hữu tài sản chính đáng cho chị gái tôi và tránh sự tranh chấp sau này, tôi xin cam kết 4 thửa đất nêu trên là do chị tôi gửi tiền về mua, bản thân và chồng Hoàng Đình N3 (đã chết) chỉ là người đứng tên hộ trong GCNQSDĐ. Tôi chỉ được trông coi và nộp thuế đất hằng năm theo quy định của nhà nước...Bản cam kết này tôi viết, nêu sai xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật...”

Như vậy, bản cam kết đã thể hiện rõ 03 thửa đất nguyên đơn đang yêu cầu giải quyết nêu trên được mua bằng tiền ông Đặng Văn H, bà Nguyễn Thị B và bà Nguyễn Thị Bạch T chỉ là người đứng tên hộ ông H, bà B.

2.3. Lời khai của nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đều phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P1, ông Đặng Xuân L4 và bà Lưu Thị L2 là những người bán 03 thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị B và ông Đặng Văn H và đều nhận tiền bán 03 thửa đất này của ông H, bà B, không biết bà T là ai.

2.4. Lời khai của nguyên đơn, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của những người làm chứng bà Nguyễn Thị H2, bà Đặng Thị O, bà Nguyễn Thị M và bà Đặng Thị T3 (các bà đều có mối quan hệ họ, hàng trong gia đình với bà B và bà T), bà T chỉ là người đứng tên hộ bà B và ông H 3 thửa đất tại khu đô thị T mà bà B ông H đã yêu cầu bà T nhiều lần sang tên trả lại nhưng bà T không trả, các bà cũng đã có khuyên bảo bà T nhưng không có kết quả nên bà B, ông H phải khởi kiện đòi. Ngoài ra người làm chứng ông Phạm Văn C khai: ông là người giới thiệu cho bà B, ông H mua đất của ông L4, bà L2, ông C trực tiếp chứng kiến bà B, ông H trả tiền mua đất cho ông L4, bà L2. Vì ông C trú ở gần đất của ông H, bà B nên ông H, bà B đã trả tiền thuê ông C quản lý, trông coi 03 thửa đất này cho ông H, bà B, còn bà T chưa lần nào đến 03 thửa đất của ông H, bà B nên bà T không có công sức tác động, trông coi, quản lý gì đối với 03 thửa đất này.

Xét thấy lời khai của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và lời khai của những người làm chứng đều phù hợp với nội dung bản cam kết ngày 18/11/2015 của bà Nguyễn Thị Bạch T và bà Nguyễn Thị B, được UBND thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng xác nhận. Mọi thoả thuận cam kết của bà Nguyễn Thị Bạch T trong Bản cam kết là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, bà T có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, vì vậy Bản cam kết ngày 18/11/2015, về quyền sử dụng 03 thửa đất nêu trên giữa bà Nguyễn Thị Bạch T với bà Nguyễn Thị B là phù hợp với quy định tại Điều 122, Bộ luật dân sự năm 2005, nên yêu cầu công nhận Bản cam kết ngày 18/11/2015, có hiệu lực của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận.

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đánh giá lời khai của các bên đương sự, đủ cơ sở xác định bà Nguyễn Thị B và ông Đặng Văn H là người bỏ tiền ra để nhận chuyển nhượng 03 thửa đất: thửa số BT1, ô số 17, diện tích 193,5m²; thửa số 15 - BT7, diện tích 173,7m²; thửa số 14 - BT7, diện tích 173,7m², đều có địa chỉ tại khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, đã được UBND huyện V cấp GCNQSDĐ, còn bà Nguyễn Thị Bạch T chỉ là người đứng tên hộ trên GCNQSDĐ. Do đó căn cứ khoản 2 Điều 221, Điều 223, Điều 235 của Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xác định 03 thửa đất mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T nêu trên là tài sản chung của ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị B, ông H, bà B được xác lập quyền sử dụng vì vậy ông H, bà B được phép đứng tên bất động sản quyền sử dụng 03 thửa đất nêu trên, bà Nguyễn Thị Bạch T không có quyền được cản trở bà B, ông H thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2.5. Nguyên đơn, ông Đặng Văn H đề nghị giao 1/2 giá trị quyền sử dụng của 3 thửa đất (đang tranh chấp yêu cầu giải quyết), thuộc quyền sử dụng đất của ông H trong khối tài sản có chung với bà B cho bà B toàn quyền sử dụng; bà B đồng ý chấp nhận đề nghị của ông H. Xét thấy đây là quyền tự định đoạt của đương sự, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự nên yêu cầu của ông H, bà B cần được chấp nhận.

2.6. Bà Nguyễn Thị Bạch T, bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất 03 thửa đất: thửa số BT1, ô số 17, diện tích 193,5m²; thửa số 15 - BT7, diện tích 173,7m²; thửa số 14 - BT7, diện tích 173,7m², đều có địa chỉ tại khu H, thị trấn C, huyện V đã được cấp GCNQSDĐ mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T về lại đúng tên của bà Nguyễn Thị Bích.

[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Bạch T phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 30.600.000 đồng. Tuy nhiên ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị Bích tự N2 chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, ông H, bà B đã nộp tạm ứng đủ và đã chi quyết toán xong.

[4] Về án phí: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Bạch T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tuy nhiên bà Nguyễn Thị Bạch T là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 2 Điều 5, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 157, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 236 của Luật đất đai năm 2024; khoản 1 Điều 163, Điều 164, khoản 1 Điều 166, khoản 2 Điều 221; Điều 223 và Điều 235 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 121, Điều 122, Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2005; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn H, bà Nguyễn Thị Bích .
  2. Công nhận Bản cam kết ngày 18/11/2015, giữa người cam kết bà Nguyễn Thị Bạch T với người được cam kết bà Nguyễn Thị B có hiệu lực.
  3. Xác định:
    • + Thửa đất số BT1, ô số 17, diện tích 193,5m², Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 136220, số vào sổ cấp GCN: 3787 ngày 25/5/2011, mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T, địa chỉ thửa đất: khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, thuộc quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị B; vị trí thửa đất: phía đông nam tiếp giáp đường, phía tây nam tiếp giáp đất ông Huỳnh Văn H4, phía tây bắc tiếp giáp cống, phía đông bắc không xác định được chủ tiếp giáp.
    • + Thửa đất số 15 - BT7, diện tích 173,7m², Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 136202, số vào sổ cấp GCN: 3779 ngày 18/5/2011, mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T, địa chỉ thửa đất: khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, thuộc quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị B; vị trí thửa đất: phía tây nam tiếp giáp đất ông Hoàng Tiến H5, phía đông bắc không xác định được chủ tiếp giáp, phía tây bắc tiếp giáp đường, phía đông nam tiếp giáp cống.
    • + Thửa đất số 14-BT7, diện tích 173,7m² Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 136203, số vào sổ cấp GCN: 3778 ngày 18/5/2011, mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T, địa chỉ thửa đất: khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, thuộc quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị B; vị trí thửa đất: phía tây nam tiếp giáp đất ông Hoàng Tiến H5, phía đông bắc không xác định được chủ tiếp giáp, phía tây bắc tiếp giáp đường, phía đông nam tiếp giáp cống.

    (Kèm theo là Biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 20/02/2025 của Công ty cổ phần Đ1 và xây dựng công trình 5/5, xã định, đo vẽ).

  4. Bà Nguyễn Thị Bạch T, bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất:
    • + Thửa đất số BT1, ô số 17, diện tích 193,5m², Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 136220 số vào sổ cấp GCN: 3787 ngày 25/5/2011, địa chỉ thửa đất: khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T về lại đúng tên của bà Nguyễn Thị Bích .
    • + Thửa đất số 15 - BT7, diện tích 173,7m², Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 136202, số vào sổ cấp GCN: 3779 ngày 18/5/2011, mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T, địa chỉ thửa đất: khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T về lại đúng tên của bà Nguyễn Thị Bích .
    • + Thửa đất số 14 - BT7, diện tích 173,7m², Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 136203, số vào sổ cấp GCN: 3778 ngày 18/5/2011, mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T, địa chỉ thửa đất: khu H, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, mang tên bà Nguyễn Thị Bạch T về lại đúng tên của bà Nguyễn Thị Bích .
  5. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị Bích tự N2 chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, ông H, bà B đã nộp tạm ứng và đã chi quyết toán xong.
  6. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị Bạch T.
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Bé

Hoàng Thị Minh Tâm

Dương Thị Nga

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Vân Đồn
  • - TAND tỉnh QN;
  • - CCTHADS huyện Vân Đồn
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 11/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh về tranh chấp về quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 06/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Bích - Nguyễn Thị Bạch T Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger