|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2025/DS-ST
Ngày: 11/6/2025
V/v “tranh chấp quyền sử dụng đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quốc Hoàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Đinh Hồng Sâm
- Bà: Cao Thị Thu Ngà
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Lương Bằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình giữa các đương sự:
- Đồng nguyên đơn: ông Đinh Ngọc Đ (tên gọi khác: Đinh Ngọc H), sinh năm 1950 và bà Cao Thị H1, sinh năm 1953 (có mặt)
- Bị đơn: anh Đinh Như T, sinh năm 1983 (có mặt)
- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Quảng Bình. (vắng mặt)
- - Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. (vắng mặt)
Đều cư trú tại: thôn Trấu, xã Hồng Hoá, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình
Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình.
Địa chỉ: tổ dân phố E, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình
2
Địa chỉ: xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Đinh Ngọc Đ trình bày gia đình ông được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận AN 643310, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H01177, cấp ngày 21/11/2008, thửa đất 159, 246, 305,339, tờ bản đồ số: 33, tổng diện tích 12113 m2. Năm 2017 gia đình ông Đ phát hiện ông Đinh Như T trồng cây keo lấn sang đất của ông Đ khoảng 8000m2 từ năm 2011 cho đến nay. Đến năm 2023 gia đình anh T bán cây keo xong gia đình ông Đ yêu cầu trả lại đất để gia đình ông Đ sản xuất nhưng gia đình ông T không nhất trí. Sau khi ông Đ làm đơn yêu cầu xem xét thẩm định tại chổ khi đo đạc, định vị thực tế thì phát hiện ông T lấn chiếm 1546,3m². Nay ông Đ bà H1 yêu cầu ông T trả lại đất lấn chiếm 1546,3m² theo như kết quả của Hội đồng xem xét thẩm định tại chổ.
Ý kiến của bà H1: Nhất trí như ý kiến của ông Đ, không bổ sung gì thêm.
Bị đơn trình bày: Thửa đất mà ông Đ và bà H1 khởi kiện buộc ông trả lại là đất của gia đình anh T, gia đình anh T đã sản xuất và trồng cây được 11 năm và gia đình anh T cũng được UBND huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc ông Đ và bà H1 yêu cầu trả lại đất anh T không nhất trí. Quá trình sản xuất trên thửa đất tranh chấp anh T cho rằng anh chỉ trồng cây keo thuê cho bố anh và bố anh cũng có được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh T không lấn chiêm đất của ai.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án UBND xã H trình bày: gia đình ông Đinh Ngọc Đ (Đinh Ngọc H) và bà Cao Thị H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 159, 246, 305, 339 tờ bản đồ số 33 xã H. Quá trình sử dụng đất xảy ra tranh chấp nhưng hòa giải không thành. Quá trình cấp đất cho hộ ông H bà H1 đảm bảo đúng trình tự thủ tục quy định.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án UBND huyện M trình bày: Về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Đinh Ngọc H và bà Cao Thị H1 được thực hiện đảm bảo trình tự thủ tục theo quy định của Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ và các văn bản liên quan. Khi làm thủ tục cấp đất về ranh giới được các hộ liền kề ký xác nhận không tranh chấp, được UBND xã H xác nhận đúng nguồn gốc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Đ (H) bà H1 đảm bảo các quy dịnh pháp luật
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
3
Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 157, 158, 165, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 166, 189 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 9, 26, 31 và Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Căn cứ Điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Ngọc Đ, bà Cao Thị H1 yêu cầu ông Đinh Như T trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 1546,3m² cho ông Đinh Ngọc Đ và bà Cao Thị H1 thuộc thửa đất số 305 và 339, tờ bản đồ số 33, được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận AN 643310, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H01177, cấp ngày 21/11/2008 cho ông Đinh Ngọc H (Đinh Ngọc Đ) và bà Cao Thị H1.
Giao cho Ông Đinh Ngọc Đ và bà Cao Thị H1 được tiếp nhận, sử dụng và quản lý số cây keo khoảng 01 năm tuổi tồn tại trên diện tích 1546,3m². Ông Đinh Ngọc Đ và bà Cao Thị H1 có nghĩa vụ hoàn trả lại giá trị số cây keo cho ông Đinh Như T với số tiền 6.455.800đ (Sáu bốn trăm năm mươi lăm ngàn tám trăm đồng) và xử lý án phí chi phí tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Đinh Ngọc Đ và bà Cao Thị H1 khởi kiện yêu cầu ông Đinh Như T trả lại diện tích đất lấn chiếm, đất tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình nên Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa thụ lý giải quyết là đúng quy định.
[2] Về nội dung vụ án: Năm 2017 gia đình ông Đ và bà H1 phát hiện phần đất mà ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số thửa đất 159, 246, 305, 339, tờ bản đồ số: 33 bị ông Đinh Như T lấn chiếm và trồng cây keo từ năm 2011, diện tích sau khi đo đạc thực tế là 1546,3m², quá trình sử dụng đất, ông T đã lấn chiếm của gia đình ông Đ, khi phát hiện ông Đ đã nhiều lần yêu cầu ông T trả lại đất nhưng không thành. Do đó, ông Đ và bà H1 khởi kiện ông T tranh chấp đất đã lấn chiếm. Quá trình hòa giải tại UBND xã và tại Tòa án nhưng các đương sự không thống nhất thỏa thuận được để giải quyết vụ án. Ông Đ làm đơn yêu cầu xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản trên đất.
Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản tồn tại trên thửa đất tranh chấp. Sau khi tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản cho thấy, vị trí đất tranh chấp thuộc thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình; là loại đất rừng tự nhiên sản xuất khoanh nuôi bảo vệ; hiện trạng phần đất tranh chấp mà ông T đã sử dụng lấn chiếm của ông Đ và bà H1 có diện tích 1546,3m², tại các mốc điểm mốc điểm 6,7,8,9,14, 15, 16, 17, 18, 19 theo sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 20/3/2025 thuộc thửa đất số 305 và 339, tờ bản đồ
4
số 33, được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận AN 643310, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H01177, cấp ngày 21/11/2008 cho ông Đinh Ngọc H (Đinh Ngọc Đ) và bà Cao Thị H1. Trong đơn khởi kiện ông Đ và bà H1 yêu cầu ông T trả lại diện tích lấn chiếm khoảng 8000m2. Tại phiên tòa hôm nay ông Đ và bà H1 đề nghị bổ sung và yêu cầu ông T trả lại diện tích theo như kết quả xem xét thẩm định là 1546,3m². Việc bổ sung yêu cầu của nguyên đơn do đo đạc bằng thước dây nên không chính xác nên đề nghị Tòa án giải quyết theo kết quả xem xét thẩm định là hợp lý không vượt quá phạm vi khởi kiện. Việc cấp đất cho ông Đ và bà H1 được UBND xã H xác nhận đúng nguồn gốc và UBND huyện M thực hiện đảm bảo đúng trình tự thủ tục. Do đó ông Đ và bà H1 yêu cầu anh T trả lại đất đã lấn chiếm là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu của ông Đ và bà H1 buộc ông T trả lại diện tích đã lấn chiếm cho ông Đ và bà H1 diện tích 1546,3m² là hợp lý. Đối với anh T quá trình sản xuất mà anh cho rằng anh làm thuê trên đất của bố anh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong quá trình sản xuất trên thửa đất của bố, anh T đã phát xẻ lấn sang đất của ông Đ và H1 và được ông Đ bà hây can ngăn và khiếu nại lên UBND xã H hòa giải nhưng không thành. Anh T cho rằng anh không lấn chiếm đất của bà H1 và ông Đ mà anh chỉ khai thác và trồng cây Keo trên đất của bố anh nên việc ông Đ và bà H1 khởi kiện anh trả lại đất đã lấn chiếm anh không chấp nhận. Tuy nhiên căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chổ và ý kiến của UBND xã H, UBND huyện M và các tài liệu chứng cứ cho thấy việc ông T không chấp nhận trả lại đất của cho ông Đ và bà H1 là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Tứ cạnh của vị trí đất tranh chấp như sau: Phía bắc tiếp giáp với diện tích đất ông Đinh Ngọc H (Đấu) bà H1 điểm 6 là góc nhọn của tam giác của sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 20/3/2025; Phía nam tiếp giáp với diện tích đất của ông H và bà H1 từ điểm 14 đến điểm 15 dài 5,82 mét của sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 20/3/2025; Phía đông: kéo dài từ điểm 6 đến điểm 7, 8, 9,14 dài 217,16 mét giáp đất ông Đinh Ngọc H và đất ông Đinh Lê C sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 20/3/2025; Phía tây: tiếp giáp với diện tích đất của của ông Đinh Ngọc H kéo dài từ điểm 15 đến điểm 16,17,18 và điểm 19 dài 219,3 mét của sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 20/3/2025.
Hiện trạng trên phần đất tranh chấp đã được ông Đinh Như T trồng keo, chiều cao cây dưới 01mét. Căn cứ theo các văn bản quy định về mật độ cây trồng thì cứ 10.000m² đất sẽ trồng được khoảng 2.500 cây. Vậy phần đất các bên tranh chấp là 1546,3m² sẽ trồng được 386 cây keo, loại cây cao dưới 01m có giá 16.700 đồngx386 cây = 6.455.800 đồng.
[3] Từ những nhận định trên có đủ cơ sở xác định ông Đinh Như T có hành vi lấn chiếm đất của ông Đinh Ngọc Đ (Đinh Ngọc H) và bà Cao Thị H1 với diện tích đất là 1546,3m², tại các mốc điểm mốc điểm 6,7,8,9,14, 15, 16, 17, 18, 19 theo sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 20/3/2025 thuộc thửa đất số 305 và 339, tờ bản đồ số 33, được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận AN 643310, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H01177, cấp
5
ngày 21/11/2008 cho ông Đinh Ngọc H (Đinh Ngọc Đ) và bà Cao Thị H1, hiện ông T đã trồng cây keo nhỏ khoảng 01 năm tuổi, có chiều cao dưới 01mét. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện tranh chấp đất đai do bị lấn chiếm của ông Đ và bà H1 là hoàn toàn có căn cứ để chấp nhận, hành vi của ông T đã xâm phạm đến quyền và lợi ích của ông Đ và bà H1.
Đối với số cây keo do ông T trồng đang tồn tại trên đất, xét thấy ông T đã trồng keo trên phần đất của ông Đ và bà H1. Lẽ ra, ông T phải tiến hành thu hoạch hết số cây keo đã trồng trên phần diện tích đất tranh chấp thuộc thửa đất của ông Đ và bà H1, nhưng Hội đồng xét xử cân nhắc rằng, nếu phải thu hoạch số cây K, vì cây keo chưa đến tuổi thu hoạch sẻ không có giá trị. Do đó, việc giao số cây K đã trồng trên cho anh T được quyền quản lý sử dụng và ông Đ bà H1 có nghĩa vụ hoàn trả tiền cây cho anh T là hợp lý.
[3] Về án phí và chi phí tố tụng khác:
Do yêu cầu khởi kiện của ông Đ và bà H1 được chấp nhận nên không phải chịu án phí.
Phía bị đơn ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của của pháp luật.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên phía bị đơn phải chị chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo quy định tại Điều 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Đinh Ngọc Đ đã nộp tạm ứng án phí số tiền 4.000.000 đồng. Do đó buộc ông T có nghĩa vụ trả cho ông Đ số tiền 4.000.000 đồng.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147, 157, 165, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 23, 26, 31, 37, 236 Luật đất đai năm 2024;
Điều 158; Điều 163; Điều 166; Điều 189 ; Điều 190 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Ngọc Đ (Đinh Ngọc H) và bà Cao Thị H1 về yêu cầu ông Đinh Như T trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 1546,3m².
6
Buộc ông Đinh Như T trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 1546,3m² cho ông Đinh Ngọc Đ và bà Cao Thị H1 tại các mốc điểm mốc điểm 6,7,8,9,14, 15, 16, 17, 18, 19 theo sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 20/3/2025 thuộc thửa đất số 305 và 339, tờ bản đồ số 33, được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận AN 643310, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H01177, cấp ngày 21/11/2008 cho ông Đinh Ngọc H (Đinh Ngọc Đ) và bà Cao Thị H1. Địa chỉ thửa đất tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình.
Tứ cạnh của vị trí đất tranh chấp như sau: Phía bắc tiếp giáp với diện tích đất ông Đinh Ngọc H (Đấu) bà H1 điểm 6 là góc nhọn của tam giác của sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 20/3/2025; Phía nam tiếp giáp với diện tích đất của ông H và bà H1 từ điểm 14 đến điểm 15 dài 5,82 mét của sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 20/3/2025; Phía đông: kéo dài từ điểm 6 đến điểm 7, 8, 9,14 dài 217,16 mét giáp đất ông Đinh Ngọc H và đất ông Đinh Lê C sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 20/3/2025; Phía tây: tiếp giáp với diện tích đất của của ông Đinh Ngọc H kéo dài từ điểm 15 đến điểm 16,17,18 và điểm 19 dài 219,3 mét của sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 20/3/2025.
Ông Đinh Ngọc Đ và bà Cao Thị H1 được tiếp nhận, sử dụng và quản lý số cây keo khoảng 01 năm tuổi tồn tại trên diện tích 1546,3m² tại các mốc điểm mốc điểm 6,7,8,9,14, 15, 16, 17, 18, 19 theo sơ đồ thửa đất tranh chấp lập ngày 20/3/2025.
Buộc ông Đinh Ngọc Đ và bà Cao Thị H1 có nghĩa vụ hoàn trả lại giá trị số cây keo cho ông Đinh Như T với số tiền 6.455.800đ (Sáu bốn trăm năm mươi lăm ngàn tám trăm đồng).
Sơ đồ hiện trạng thửa đất lập ngày 20/3/2025 là một phần không tách rời của bản án.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thi hành thì phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà ông Đinh Như T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Cao Thị H1 được nhận lại số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000659 ngày 16/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.
4. Về chi phí tố tụng khác: Ông Đinh Như T có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) cho ông Đinh Ngọc Đ và bà Cao Thị H1.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng
7
mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quốc Hoàn |
Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 06/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án chấp chấp quyền sử dụng đất Đấu - Thiêm
