Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 06/2025/DS-ST

Ngày: 02 - 7 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Lin

Bà Trần Thị Đổi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Tây Ninh.

Ngày 02 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 390/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 253/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 157/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S1;

Địa chỉ trụ sở: Số B N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh) .

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Văn S – Chức vụ: Phó Tổng Giám đốc. Theo Giấy ủy quyền số 4039/2024/QĐ-PC ngày 27/12/2024;

Người đại diện theo ủy quyền của ông S: Ông Lê Minh K, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp P, xã P, tỉnh Tây Ninh (Trước đây là: Ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh). Theo Giấy ủy quyền số 56/GUQ-PGD-TB ngày 01/4/2025. Ông K xin vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Ấp A, xã A, tỉnh Tây Ninh (trước đây là: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An). Ông T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/4/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 là ông Lê Minh K trình bày như sau: Ngày 14/11/2023, ông T đã ký với Ngân hàng TMCP S1 (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập từ tiền lương làm việc của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với mục đích tiêu dùng cá nhân, chi tiết thẻ như sau: Theo Hợp đồng: Loại thẻ: Thẻ tín dụng quốc tế JCB, Số thẻ: 356480 - 9211, Số tài khoản thẻ: 3587823547, Hạn mức sử dụng: 15.000.000 đồng, Ngày đến hạn thanh toán: ngày 15, 25 hàng tháng, Lãi suất lức phát hành thẻ: 22,4 %/năm (Lãi suất thay đổi theo từng thời kỳ và được S2 niêm yết tại www.S2.com.vn), Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã vay tiền trên ứng dụng S2 và thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 19.287.802đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến 02/07/2025 ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 11.182.668 đồng. (Thời hạn thanh toán căn cứ theo Điều 19 của Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tin dụng cá nhân của Ngân hàng).

Đến kỳ thanh toán ngày 15/08/2024 ông T không thanh toán nợ. Do ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên ngày 15/11/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thé và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng). Tính đến ngày 02/7/2025, ông T còn nợ các khoản sau: Dư nợ: 6.385.950 đồng, Lãi quá hạn: 1.719.184đồng, Tổng cộng: 8.105.134đồng (Bằng chữ: Tám triệu, một trăm lẻ năm nghìn một trăm ba mươi bốn đồng).

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông T có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, Ngân hàng TMCP S1 kính đề nghị Quý Tòa giải quyết:

  1. Buộc Ông Trương Văn T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 02/7/2025 là: 8.105.134đồng (Bằng chữ: Tám triệu, một trăm lẻ năm nghìn một trăm ba mươi bốn đồng), trong đó: Dư nợ: 6.385.950 đồng, L quá hạn: 1.719.184đồng.
  2. Và ông Trương Văn T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 03/7/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đại diện ủy quyền nguyên đơn ông Lê Minh K có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng bị đơn ông Trương Văn T vẫn vắng mặt, cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1]. Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Trương Văn T nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, bị đơn ông Trương Văn T hiện thường trú tại ấp A, xã A, tỉnh Tây Ninh (trước đây là: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An) nên Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Tây Ninh thụ lý theo thủ tục sơ thẩm là thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Bị đơn ông Trương Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Trương Văn T.

[1.3] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải. Nguyên đơn thống nhất các chứng cứ của vụ án đã được giao nộp đầy đủ và được công khai đúng thủ tục. Nguyên đơn có đề nghị không hòa giải, bị đơn ông T vắng mặt nên vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án: Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 khởi kiện yêu cầu ông Trương Văn T trả số tiền cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 02/7/2025 là 8.105.134đồng, trong đó: Nợ gốc: 6.385.950đồng, Lãi quá hạn: 1.719.184đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/11/2023, bảng tóm tắt sao kê ngày 01/4/2025 và ngày 02/7/2025, thông báo khởi kiện ngày 03/12/2023 cho thấy nguyên đơn ngân hàng có ký hợp đồng cung cấp thẻ tín dụng cho ông Trương Văn T, quá trình thực hiện hợp đồng ông T không thực hiện theo cam kết nên ngân hàng cũng nhiều lần nhắc nợ. Khi nguyên đơn ngân hàng đã khởi kiện vụ án tại Tòa án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn ông T vẫn vắng mặt không lý do trong suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng, không có bản khai cũng không có văn bản trình bày ý kiến nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét ý kiến, yêu cầu, nguyện vọng nếu có của bị đơn ông Trương Văn T. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ như nguyên đơn ngân hàng đã cung cấp và căn cứ theo quy định của pháp luật để làm cơ sở xét xử vụ án.

[2.2] Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/11/2023, thể hiện ông Trương Văn T có ký với Ngân hàng TMCP S1 hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng. Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân cho ông T, lãi suất trong hạn là lãi suất tại thời điểm làm thẻ là 22,4%/năm. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch lũy kế với tổng số tiền là 19.287.802đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T đã thanh toán tiền thẻ tín dụng cho Ngân hàng số tiền lũy kế là 11.182.668 đồng. Do bị đơn ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ mà đôi bên đã thỏa thuận với nhau trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Trương Văn T trả số tiền cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 02/7/2025 là: 8.105.134đồng, trong đó: Nợ gốc: 6.385.950đồng, Lãi quá hạn: 1.719.184đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 103, Điều 107 Luật Các tổ chức tín dụng cần buộc ông Trương Văn T phải có trách nhiệm trả số tiền nợ tổng cộng là 8.105.134đồng, trong đó: Nợ gốc: 6.385.950đồng, Lãi quá hạn: 1.719.184đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/11/2023.

[2.3] Ngoài ra kể từ ngày 03/7/2025, ông Trương Văn T còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ cho đến khi ông T thanh toán xong khoản nợ.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Trương Văn T phải chịu 405.256đồng (8.105.134đồng x 5%= 405.256đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 103, Điều 107 Luật Các tổ chức tín dụng và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn ông Trương Văn T.

    Buộc ông Trương Văn T phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 số tiền tổng cộng là 8.105.134đồng (Bằng chữ: Tám triệu, một trăm lẻ năm nghìn một trăm ba mươi bốn đồng), trong đó: Nợ gốc: 6.385.950 đồng, L quá hạn: 1.719.184đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/11/2023.

  2. Kể từ ngày 03/7/2025, bà ông Trương Văn T còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/11/2023 cho đến khi ông Trương Văn T thanh toán xong khoản nợ.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Trương Văn T phải chịu 405.256 đồng án phí dân sự sơ thẩm. ông Trương Văn T chưa nộp.

    Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3, tỉnh Tây Ninh hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 số tiền 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 006565 ngày 08/4/2025.

  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 và bị đơn ông Trương Văn T vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3;
  • - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 02/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 06/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S - Trương V Tr tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger