Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 06/2025/DS-PT

Ngày: 26/5/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Minh

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Ông Nguyễn Đức Anh

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Đạt –Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 01/2024/TLPT - KDTM ngày 10 tháng 02năm 2025 về việc:“ Tranh chấphợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXPT - KDTM ngày 09 tháng 5 năm 2025.Do có kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị H đối với bản án sơ thẩm số 66 ngày 30/9/2024 của TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (Gọi tắt: MB)

    Địa chỉ: số A, L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội;

    Người đại diện theo pháp luật: ông Hà Anh D – chức vụ: Tổng giám đốc;

    Pháp nhân đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH Q2 và khai thác tài sản – Ngân hàng TMCP Q1 (công ty M1).

    Địa chỉ: T, số C L, phường L, quận B, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: ông Lưu Trung T – chức vụ: chủ tịch Hội đồng quản trị;

    Người đại diện theo ủy quyền: ông Quách Mạnh Q – chức vụ: giám đốc vùng miền bắc.

    Người được ủy quyền lại: ông Nguyễn Văn S - chức vụ: chuyên viên xử lý nợ của công ty M1 (Có mặt).

  • * Bị đơn: +/ Ông Phạm Đức T1, sinh năm 1982.(vắng mặt)

    Cư trú tại: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

    +/ Bà Trần Thị H, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

    Cư trú tại: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An - Đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Thị H:

    Ông Hoàng Xuân D1, sinh năm 1994(có mặt)

1

Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1982; địa chỉ: Số A LK13/Bún A, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.(có mặt)

  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    + Ông Phạm Xuân P, sinh năm 1984.

    + Bà Phạm Thị T3, sinh năm 1988.

    Địa chỉ: đều trú tại xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An (đều vắng mặt)

    Người kháng cáo: Bà Trần Thị H – Bị đơn

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và ý kiến trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại phiên tòa thì vụ án có nội dung như sau:

Vào ngày 27/11/2021 giữa Ngân hàng TMCP Q1 (MB) - Chi nhánh N1 và vợ chồng ông Phạm Đức T1, sinh năm 1982, bà Trần Thị H, sinh năm 1983 cư trú tại: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An đã ký Hợp đồng cho vay số 20981321814.15517769.TD ngày 27/11/2021 với nội dung khoản vay như sau: Phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức tín dụng; Hạn mức cho vay: 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng); Mục đích sử dụng vốn: Cấp hạn mức tín dụng bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh hàng tạp hóa; Thời hạn cấp hạn mức 24 tháng kể từ ngày 18/11/2021; Thời hạn rút vốn vay; Thời hạn hiệu lực giải ngân lần đầu tối đa 06 tháng kể từ ngày 18/11/2021; Thời gian của mỗi khoản vay trong hạn mức: Tối đa 09 tháng kể từ ngày giải ngân đến hết ngày đáo hạn quy định tại văn bản nhận nợ. Thời hạn cho vay cụ thể sẽ được quy định trong từng văn bản nhận nợ; Lãi suất cho vay trong hạn: được quy định tại văn bản nhận nợ giữa MB và khách hàng; Tiền lãi chậm trả: trường hợp khách hàng chậm trả lãi, khách hàng phải thanh toán tiền lãi chậm trả bằng 9,5%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi suất nợ gốc quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.

Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, thì ngày 25/4/2023 ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H đã được Ngân hàng M2 giải ngân số tiền: 2.583.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm tám mươi ba triệu đồng) tại văn bản nhận nợ số: LD2311580288 ngày 25/4/2023.Thời hạn cho vay: 09 tháng kể ngày giải ngân đến ngày 25/01/2024. Mục đích giải ngân: cấp hạn mức tín dụng bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh hàng tạp hóa; Lãi suất cho vay là 9,5%/ năm. Lãi suất cho vay thời gian tiếp theo điều chỉnh định kỳ tháng/lần vào ngày 25 hàng tháng và được xác định bằng lãi suất tham chiếu VNĐ kỳ hạn vay = 12 tháng - kỳ điều chỉnh 1 tháng áp dụng tại ngày điều chỉnh lãi suất (+) biên độ 2%/năm. Tiền lãi - được tính bằng dư nợ gốc thực tế nhân với (x) số ngày vay thực tế nhân với (x) lãi suất cho vay (%/năm) chia cho (:) 365. Lãi suất nợ gốc quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Tài sản ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H thế chấp bảo đảm cho khoản vay gồm:

  • - Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 139 (tách từ thửa 75), tờ bản đồ số 32, diện tích 794.6 m², địa chỉ thửa đất: tại xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Thửa đất đã được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận

2

quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 903203, số vào sổ cấp GCN: CH 02052, cấp ngày 17/4/2020. Tài sản được thế chấp tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 209819.21.814.15517769.BĐ ngày 27/11/2021.

  • - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 166, tờ bản đồ số 67, diện tích 134 m², địa chỉ thửa đất tại xóm Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Thửa đất đã được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 525023, số vào sổ cấp GCN CH 00472 cấp ngày 07/3/2014. Tài sản được thế chấp tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 209824.21.814.15517769.BĐ ngày 27/11/2021.

Ngoài khoản vay trên căn cứ đề nghị xử lý yêu cầu trợ giúp thẻ, mã số 15517765 của khách hàng bà Trần Thị H ngày 22/9/2023 thì Ngân hàng M2 đã mở thẻ VISA JCB-CRETDIT đối với bà Trần Thị H với số tiền gốc 30.000.000 đồng, với lãi suất 27% năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Cùng ngày 22/9/2023 bà H1 đã rút toàn bộ số tiền gốc có trong thẻ, chưa thanh toán gốc và lãi suất cho Ngân hàng M2.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng tính đến ngày 24/10/2023, ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H mới thanh toán được cho Ngân hàng MB tổng số tiền lãi là: 107.491.955 đồng. Kể từ ngày 25/10/2023 cho đến nay, ông T1, bà H vi phạm nghĩa vụ trả lãi và gốc khi đến hạn theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay số: 209813.21.814.15517769.TD ngày 27/11/2021 và và văn bản nhận nợ số: LD2311580288 ngày 25/4/2023 cho ngân hàng nên toàn bộ khoản vay của ông T1, bà H tại Ngân hàng M2 đã bị chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 25/01/2024.

Do ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng M2 nên đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã có thông báo về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ gửi ông T1, bà H. Đại diện của Ngân hàng M2 cũng đã tiến hành làm việc với vợ chồng ông T1, bà H nhiều lần để đôn đốc việc trả nợ nhưng vợ chồng ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H vẫn không thực hiện, nên ngày 26/01/2024, Ngân hàng M2 đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án để thu hồi các khoản nợ mà ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H còn nợ Ngân hàng M2 tại Văn bản nhận nợ số: LD2311580288 ngày 25/4/2023 và khoản vay theo mở thẻ VISA JCB-CRETDIT.

Tại phiên tòa đại diện của Ngân hàng M2 tiếp tục giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án buộc bị đơn ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H phải có nghĩa vụ tiếp tục trả các khoản nợ gốc và các khoản lãi còn thiếu cho Ngân hàng MB theo Hợp đồng cho vay số: 209813.21.814.15517769.TD ngày 27/11/2021 và Văn bản nhận nợ số: LD2311580288 ngày 25/4/2023 là: 2.894.392.801 đồng, trong đó: Nợ gốc: 2.583.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 75.207.526 đồng; Nợ lãi quá hạn: 236.185.275 đồng, đồng thời yêu cầu buộc

3

ông T1, bà H trả tiền nợ thẻ VISA JCB-CRETDIT với tổng số tiền là 42.770.968 đồng, trong đó tiền gốc 30.000.000 đồng, tiền lãi + phí phạt 12.770.968 đồng.

Ngoài ra, Ngân hàng M2 còn yêu cầu Tòa án buộc bên vay là ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H phải thanh toán phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho vay đã ký kết kể từ sau ngày Tòa án xét xử cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng M2 có toàn quyền tự xử lý/ủy quyền cho bên thứ ba để xử lý tài sản đảm bảo hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên mà ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H đã thế chấp cho Ngân hàng M2 tại các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 209824.21.814.15517769.BĐ ngày 27/11/2021 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 209819.21.814.15517769.BĐ ngày 27/11/2021 để thu hồi toàn bộ các khoản nợ còn thiếu cho Ngân hàng M2. Trường hợp số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì bên vay là ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả các khoản nợ còn thiếu cho Ngân hàng M2 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

- Bị đơn ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H trình bày:

Quá trình giải quyết vụ án đã được Văn phòng thừa phát lại, Tòa án tống đạt hợp lệ, các văn bản tổ tụng yêu cầu ông T1, bà H đến Tòa án để giải vụ án. Tuy nhiên, sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án thì bà H chỉ có mặt tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/6/2024. Ngoài ra bà H và ông T1 không có mặt tại các buổi làm việc khác theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án nên quá trình giải quyết vụ án Tòa án không lấy được ý kiến trình bày của bị đơn bà H, ông T1 đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 23/7/2024 thì bị đơn bà Trần Thị H đã có văn bản ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Hương T4 và bà Nguyễn Hoàng Yến N tham gia tố tụng. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Thị H có mặt tại phiên tòa trình bày quan điểm của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và quá trình giải quyết vụ án của Tòa án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Thị H cho rằng Tòa án cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bị đơn ông Phạm Đức T1 chưa đúng quy định, do ông T1 do nợ nần nhiều, bị nhiều người đến gây sức ém nên đã bỏ nhà đi hai năm nay. Bà H đã và đang tìm mọi cách để liên hệ với ông T1 để thông báo cho ông T1 về vụ kiện nhưng vẫn chưa liên hệ và thông báo được. Mặt khác, trong hồ sơ vụ án cho thấy không có văn bản tài liệu nào thể hiện ông T1 đã được Tòa án cấp, tống đạt tài liệu trực tiếp, cũng không có biên bản nào chứng minh việc Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng ở địa phương và cũng không có tài liệu chứng cứ nào thể hiện Tòa án đã thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1 theo quy định tại điều 173 Bộ luật dân sự. Trong hồ sơ vụ án thể hiện bà H có ký vào biên bản giao nhận cam kết rằng sẽ giao tận tay tài liệu cho ông T1 nhưng nay bà H vẫn chưa liên hệ, chưa thông báo được cho ông T1 biết. Tức ông T1 chưa nhận, biết được thông tin về vụ án

4

để thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, thủ tục cấp tống đạt văn bản tố tụng cho ông T1 là chưa hợp lệ.

Về hình thức và nội dung đơn khởi kiện không đúng quy định vì theo đơn khởi kiện của nguyên đơn thể hiện người khởi kiện là Ngân hàng M2 ủy quyền cho công ty M1 soạn và khởi kiện. Tuy nhiên đơn khởi kiện lại do công ty M1 đóng dấu là sai quy định. Do đó các yêu cầu của Ngân hàng M2 yêu cầu trong vụ án này là sai chủ thể, không có quyền nên đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án và thông báo cho Ngân hàng M2 có quyền khởi kiện lại theo đúng quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Xuân P và bà Phạm Thị T3 trình bày:

Đã được Văn phòng thừa phát lại, Tòa án tống đạt niêm yết hợp lệ các thông báo, văn bản tố tụng yêu cầu ông P, bà T3 đến tại Tòa án để giải quyết vụ án vì liên quan đến một số tài sản của ông P, bà T5 có trên thửa đất 139, tờ bản đồ số 32 xã T, diện tích 794.6 m² tại xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An mà ông T1, bà H thế chấp đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng M2.

Quá trình xem xét thẩm định tại chỗ ông P, bà T3 có mặt nhưng không ký vào biên bản xem xét thẩm định. Những lần báo gọi làm việc tiếp theo ông P, bà T6 đều không có mặt tại các buổi làm việc theo thông báo và giấy triệu của Tòa án nên quá trình giải quyết vụ án Tòa án không lấy được ý kiến trình bày của ông Phạm Xuân P và bà Phạm Thị T3 đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Với nội dung trên, Bản án số 66/2024/DS – ST ngày 30/9/2024 đã quyết định:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, 288; 317; 318, 319, 351, 357, 465, 466,khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 8, Điều 22, 26, 49, 51, 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Xử: Chấp nhận một phần khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1 (MB).
  • 1.Buộc ông Phạm Đức T1, bà Trần Thị H phải trả có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q1 theo Hợp đồng Hợp đồng cho vay số: 209813.21.814.15517769.TD và Văn bản nhận nợ số: LD2311580288 ngày 25/4/2023 tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 30/9/2024) tổng số tiền là: 2.894.392.801 đ ( Hai tỷ, tám trăm chín mươi tư triệu, ba trăm chín mươi hai nghìn, tám trăm linh một đồng), trong đó: nợ gốc: 2.583.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 75.207.526 đồng; nợ lãi quá hạn: 236.185.275.đồng.
  • Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 01/10/2024, ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số: 209813.21.814.15517769.TD ngày 27/11/2021 và Văn bản

5

nhận nợ số: LD2311580288 ngày 25/4/2023 nhưng được điều chỉnh mức lãi suất theo Quyết định của Ngân hàng TMCP Q1 theo từng thời kỳ.

Sau khi ông Phạm Đức T1, bà Trần Thị H hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng M2 phải có nghĩa vụ trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến việc thế chấp đảm bảo khoản vay cho ông Phạm Đức T1, bà Trần Thị H.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP Q1 làm đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H không trả hoặc trả không đủ số tiền nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP Q1 có toàn quyền tự xử lý/ủy quyền cho bên thứ ba để xử lý tài sản đảm bảo hoặc yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm mà ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP Q1 gồm:

  • *Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 166, tờ bản đồ số 67 xã T, có diện tích 134 m² ; Địa chỉ thửa đất: tại Đ, xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 07/3/2014, số BR 525023, số vào sổ cấp GCN: CH 00472 mang trên ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H.
  • + Những tài sản có trên thửa đất gồm:
    • 01 (một) ngôi nhà hai tầng hướng bắc, có diện tích sử dụng mỗi tầng là 15.7 m x 6.7 m = 105.2 m²
    • Hệ thống tầng hầm dưới nhà hai tầng cùng diện tích với nhà hai tầng là: 15.7 m x 6.7 m = 105.2 m²
    • 01 (một) mái tôn xốp chống nóng trước nhà 02 tầng hướng bắc có diện tích: 18.76 m² (2.8 m x 6.7m);
    • 02 cửa lùa nhôm kính diện tích 19.95 m² (3.2m x 3.5m + 2.5m x 3.5m)
    • 01 (một) mái tôn tráng kẻm trước nhà hai tầng hướng bắc diện tích 49.58 m² (7.4 m x 6.7 m).
    • 02 (hai) cửa cuốn tôn trước ngôi nhà hai tầng hướng bắc diện tích 19.8 m² (3.3m x 3 m) x 2 cửa.
  • * Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 139, tờ bản đồ số 32 xã T, diện tích 794.6 m²; Địa chỉ thửa đất: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 07/4/2020, CU 903203, số vào sổ cấp GCN: CH 02052, cấp ngày 17/4/2020 mang trên ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H.
  • Những tài sản có trên thửa đất gồm:
    • Tài sản của bà ông Phạm Đức T1, bà Trần Thị H gồm: Hệ thống hàng rào xây táp lô hướng Đông Nam dài 43 m x cao 1 m = 43 m²; Hệ thống hàng rào xây táp lô hướng Tây Nam dài 15m x cao 1.5m = 22,5m²; 02 (hai) cây lộc vừng có chu vi lần lượt 90 cm và 47 cm; 01 (một) cây nhãn có chu vi 76 cm; 01 (một) cây vải có chu vi 70 cm; 03 (ba) cây mít có chu vi lần lượt 55 cm, 40 cm, 40 cm; 05 (năm) cây lát hoa có chu vi lần lượt là 80 cm, 45 cm, 65 cm, 30 cm và 35 cm; 06 (sáu) cây cau, trong đó có 04 cây cau đã thu hoạch ( Tài sản của ông T1, bà H)

6

  • -Tài sản của ông Phạm Xuân P, bà Phạm Thị T3 có trên diện tích đất 39 m² thuộc thửa đất số 139, tờ bản đồ số 32 xã T của gồm có: Một phần của 01 (một) gian nhà cấp bốn của ngôi nhà hướng tây nam trên diện tích đất 18 m²; 01 (một) phần mái tôn trước gian nhà hướng T trên diện tích 17 m²; 01 (một) phần sân gạch dưới mái tôn trước gian nhà hướng tây nam có diện tích 17m²; Diện tích đất 04 m² đất trước mái tôn.

(Chi tiết tài sản của ông P, bà T6 có trên diện đất 39m² được thể hiện tại sơ đồ thẩm định đối với thửa đất 139 tờ bản đồ số 32 xã T kèm theo).

Ông Phạm Xuân P, bà Phạm Thị T3 được quyền ưu tiên mua phần diện tích đất 39m² nơi gắn liền với tài sản của mình khi phát mại tài sản. Nếu ông P, bà T3 không mua thì khi xử lý tài sản Ngân hàng TMCP Q1 thanh toán giá trị phần tài sản gắn liền với đất của ông Phạm Xuân P, bà Phạm Thị T3 theo giá trị tài sản tại thời điểm xử lý.

Nếu việc xử lý tài sản ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp ông Phạm Xuân P, bà Trần Thị H thì ông Phạm Xuân P, bà Phạm Thị T3 có quyền khởi kiện ông Phạm Đức T1 bằng một vụ kiện dân sự khác theo quy định của pháp luật.

Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà vẫn không đủ để trả nợ thì ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán các khoản nợ cho ngân hàng TMCP Q1 cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ. Sau khi ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Q1– Chi nhánh N1 có nghĩa vụ trả lại giấy tờ về tài sản thế chấp cho ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H.

2.Buộc bà Trần Thị H phải trả nợ thẻ VISA JCB_CRETDIT cho Ngân hàng M2 với tổng số tiền là 36.147.945 đ ( Ba mươi sáu triệu,một trăm bốn mươi bảy nghìn), trong đó tiền gốc 30.000.000 đồng, tiền lãi 6.147.945 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 01/10/2024 bà Trần Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo qui định tại khoản 1 Điều 468 của BLDS.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 12/10/2024, bà Trần Thị H kháng cáo toàn bộ bản án với nội dung: Không đồng ý với tất cả các phán quyết của Bản án liên quan đến quyền và lợi ích của bà.

  • +Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của bà Trần Thị H bỏ sung kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm hoặc không chấp nhận nội dung khởi kiện của nguyên đơn với lý do không đưa Công ty B tham gia tố tụng vì theo bà H trình bày khi thế chấp tài sản có mua bảo hiểm; quá trình giải quyết vụ án ông T1 đã đi nước ngoài, ông T1 không ký vào văn bản nhận nợ, ngân hàng không thông báo biến động lãi suất cho người vay vốn là vi phạm Thông tư 39/2016. Do đó, đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Đối với khoản vay qua thẻ tín dụng theo quyết định của bản án sơ thẩm bà Hòa đồng Ý

  • + Ý kiến của Đại diện nguyên đơn: Không đồng ý với kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị H, hợp đồng thế chấp bà H và ông T1 không mua bảo hiểm,

7

về biến động lãi suất đã được ghi cụ thể trong hợp đồng và bà H và ông T1 đã ký đồng ý.

  • + Ý kiến của Kiểm sát viên:

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đối với kháng cáo của bà Trần Thị H là trong hạn luật định, có nộp dự phí khởi kiện nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm

Về nội dung: Đối với kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị H, kiểm sát viên đã phân tích các tài liệu chứng cứ do các bên cung cấp, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 308 BLTTDS: Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

  • [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị H làm trong hạn luật định có nộp dự phí kháng cáo nên hợp lệ, được xem xét theo trình tự sơ thẩm.

Tại cấp phúc thẩm thụ lý vụ án Kinh doanh thương mại. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ nội dung của hợp đồng vay vốn thì ông T1 và bà H vay vốn với mục đích bổ sung vốn lưu động kinh doanh tạp hóa, nhưng không có đăng ký kinh doanh. Do đó, bản án sơ thẩm xác định vụ án dân sự là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại là vụ án dân sự.

  • [2]Về nội dung kháng cáo của bà Trần Thị H:
  • + Đối với kháng cáo cho rằng ông Phạm Đức T1 quá trình giải quyết đang ở nước ngoài và chưa nhận được bản án. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Công văn số 5825/QLXNC – P3 ngày 22/03/2024 thì từ ngày 02/01/2018 ông T1 đã nhập cảnh quả cửa khẩu C. Như vậy, thời điểm Tòa thụ lý và giải quyết ông thiện đang có mặt tại Việt Nam nên Tòa án nhân dân huyệnYên Thành giải quyết là có căn cứ.
  • + Đối với kháng cáo ông T1 chưa nhận được bản án do bà H chưa chuyển được cho ông T1, thấy rằng bà H là vợ ông T1, thời điểm bà hòa nhận bản án bà H đã cam kết chịu trách nhiệm giao bản án cho ông T1.
  • + Đối với kháng cáo cho rằng người liên quan không có mặt tại địa phương và bà Trần Thị M không giao bản án cho ông P, bà T3, do ông P bà T3 không có mặt tại địa phương nên Tòa án đã niêm yết bản án vào ngày 10/10/2024 tại trụ sở UBND xã T, huyện Y là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • + Đối với kháng cáo Tòa cấp sơ thẩm không đưa Công ty Bảo hiểm vào tham gia tố tụng ảnh hưởng dến quyền lợi của bà H. Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bà H không xuất trình tài liệu chứng cứ bà H có ký hợp đồng với

8

công ty B nên không có căn cứ để xem xét.

  • + Đối với kháng cáo của bà Trần Thị H đối với nội dung ông T1 không ký vào văn bản nhận nợ, xét thấy, ông T1 đã ký vào hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp ông T1 và bà H là vợ chồng nên việc ông T1 không ký vào văn bản nhận nợ không làm thay đổi nội dung là ông T1 và bà H đã ký Hợp đồng cho vay số: 209813.21.814.15517769.TD ngày 27/11/2021 giữa Ngân hàng M2 và vợ chồng ông Phạm Đức T1 thì vào ngày 25/4/2023 Ngân hàng M2 đã giải ngân cho ông T1, bà H vay số tiền gốc 2.583.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm tám mươi ba triệu đồng).
  • + Đối với kháng cáo Ngân hàng vi phạm Điều 20, Điều 21Thông tư 39/2016, ngân hàng phải thông báo cho bên vay về thay đổi lãi suất. Xét thấy, căn cứ nội dung của Hợp đồng cho vay số 209813.21.814.15517769.TD ngày 27/11/2021thì “Đối với lãi suất thả nổi thực hiện theo văn bản nhận nợ” do đó lãi suất cho vay thời gian tiếp theo điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần, vào ngày 25 hàng tháng. Như vậy, lãi suất thả nổi được thông báo vào ngày 25 hàng tháng trùng với kỳ trả nợ lãi hàng tháng theo hợp đồng. Do đó, kháng cáo của bị đơn về nội dung này không có căn cứ để chấp nhận.

Từ phân tích trên thấy rằng bà Trần Thị H và ông Phạm Đức T1 đã ký vào hợp đồng cho vay số: 209813.21.814.15517769 TD ngày 27/11/2021 và văn bản nhận nợ số LD2311580288 ngày 25/4/2023.

Căn cứ Hợp đồng cho vay số: 209813.21.814.15517769.TD ngày 27/11/2021 giữa Ngân hàng M2 và vợ chồng ông Phạm Đức T1 thì vào ngày 25/4/2023 Ngân hàng M2 đã giải ngân cho ông T1, bà H vay số tiền gốc 2.583.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm tám mươi ba triệu đồng) theo văn bản nhận nợ số: LD2311580288 ngày 25/4/2023; Thời hạn vay 09 tháng kể từ ngày 25/4/2023 đến ngày 25/01/2024 (09 tháng).

Quá trình vay vốn, tuy đã đến hạn trả nợ gốc (ngày 25/01/2024), nhưng vợ chồng ông T1, bà H chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc cho Ngân hàng MB. Quá trình giải quyết vụ án tuy ông T1, bà H không hợp tác, không cung cấp các tài liệu, chứng cứ, lời khai, quan điểm của mình về vụ án nhưng tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà H cũng đã xác định và thừa nhận việc ký kết hợp đồng tín dụng, văn bản nhận nợ và các hợp đồng thế chấp tài sản đảm bảo cho các khoản vay, các bên tham gia ký kết có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích thực hiện nhu cầu mỗi bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; bên cho vay là Ngân hàng M2 đã giải ngân, vợ chồng ông T1, bà H đã nhận đủ số tiền cho vay. Quá trình thực hiện hợp đồng ông T1, bà H đã thanh toán được cho ngân hàng tổng số tiền lãi là: 107.491.955 đồng và vi phạm các cam kết việc thanh toán nợ. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng M2 buộc ông Phạm Đức T1, bà Trần Thị H phải trả số tiền gốc 2.583.000.000 đồng thể hiện tại văn bản nhận nợ LD2311580288 ngày 25/4/2023 là có căn cứ.

Về lãi suất cho vay:

Căn cứ vào hợp đồng cho vay số: 209813.21.814.15517769.TD; Văn bản nhận nợ số: LD2311580288 ngày 25/4/2023 và Thông báo về việc điều chỉnh lãi suất từ ngày tham chiếu KHCN thì lãi suất vay trong hạn theo lãi suất cho vay

9

ưu đãi từ ngày giải ngân đến ngày 25/10/2023 là 9,5%, Lãi suất cho vay thời gian tiếp theo được xác định bằng lãi suất tham chiếu VNĐ kỳ hạn vay dưới hoặc bằng 12 tháng - kỳ điều chỉnh 1 tháng áp dụng tại ngày điều chỉnh lãi suất cộng (+) biên độ 2%/năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 25/10/2023. Các ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo vào ngày 25 hàng tháng. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn đối với số tiền gốc còn chưa thanh toán.

Quá trình thực hiện hợp đồng cho vay số: 209813.21.814.15517769.TD; Văn bản nhận nợ số: LD2311580288 ngày 25/4/2023 thấy rằng:

Căn cứ vào phiếu tính lãi suất chi tiết ngày 30/9/2024 của Ngân hàng M2 thì số tiền lãi suất trong hạn tính từ ngày giải ngân (Ngày 25/4/2023) đến ngày 25/01/2024 (Ngày trả nợ cuối cùng của khoản vay) được hông báo điều chỉnh lãi suất tham chiếu KHCN ngày 07/12/2023 mà ông T1, bà H phải trả từ ngày 24/4/2023 đến ngày 24/10/2023 là 9,5%/năm, từ ngày 25/10/2023 đến ngày 24/12/2023 là 9,3%/năm, từ ngày 25/12/2023 đến ngày 24/01/2023 là 8,9%/năm, Tổng số tiền lãi trong hạn phải trả là 182.699.481 đồng, đã trả 107.491.955 đồng; còn nợ lãi trong hạn là 75.207.526 đồng. Số tiền lãi suất quá hạn chưa trả được tính từ ngày 24/10/2023 đến ngày 30/9/2024 là 13,35% năm với tổng số tiền lãi 236.185.275 đồng.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng M2 buộc ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H phải trả cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 30/9/2024) tổng số tiền là 2.894.392.801 đồng, trong đó: Nợ gốc: 2.583.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 75.207.526 đồng; Nợ lãi quá hạn: 236.185.275.đồng là có căn cứ.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản đảm bảo mà bị đơn là ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H đã thế chấp cho Ngân hàng M2 tại các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

Để đảm bảo cho khoản vay, thì vào ngày 27/11/2021, giữa ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H với Ngân hàng M2 đã lần lượt ký các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 209824.21.814.15517769 BĐ ngày 27/11/2021 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 209819.21.814.15517769.BĐ ngày 27/11/2021 để thế chấp các tài sản của ông T1, bà H nhằm đảm bảo cho khoản vay tại hợp đồng cho vay số: 209813.21.814.15517769.TD ngày 27/11/2021 và văn bản nhận nợ số: LD2311580288 ngày 25/4/2023.

Các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 209824.21.814.15517769 BĐ ngày 27/11/2021 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 209819.21.814.15517769.BĐ ngày 27/11/2021 có hiệu lực pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng M2 trong trường hợp ông Phạm Đức T1 và bà Trần Thị H không thanh toán được số tiền nợ hoặc không thanh toán đầy đủ số tiền nợ thì Ngân hàng M2 có toàn quyền tự xử lý ủy quyền cho bên thứ ba để xử lý tài sản đảm bảo hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo các hợp đồng thế chấp là có căn cứ.

Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H, giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên

  • [3] Về án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị H kháng cáo không được chấp nhận

10

nên phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm.

  • [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị H; giữ nguyên toàn bộ Quyết định của bản án sơ thẩm số 66/2024/DS – ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dânhuyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
  2. Về án phí: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000₫ Dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003196 ngày 30/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thị Thanh Nga Nguyễn Thị Hải Minh
Nguyễn Đức A

11

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND TP Vinh;
  • - Chi Cục THADSTP Vinh;
  • - Người tham gia tốtụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hải Minh

12

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Văn Hướng Lê Sỹ T7 Nguyễn Hữu H2

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/DS-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 06/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger