|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 06/2025/DS-PT Ngày: 02 - 4 - 2025 “V/v tranh chấp đòi lại tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hồng Phước;
- Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Luật.
- Bà Đoàn Thị Kim Thương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Ngọc Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 03/2025/TLPT-DS ngày 06/02/2025, về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 44/2024/DS-ST ngày 17/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 05/2025/QĐXXPT-DS ngày 21/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2025/QĐ-PT ngày 05/3/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Nhật A, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu phố F, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Giấy uỷ quyền ngày 04/9/2024), có mặt.
- - Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1962; địa chỉ: E N, khu phố C, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào các ngày 14/3/2019, ngày 25/01/2021 và ngày 29/01/2021, ông Lê Văn H có mượn tiền của bà Hoàng Thị Nhật A, cụ thể:
- - Ngày 14/3/2019, ông H mượn của bà A số tiền 50.000.000 đồng, không ghi lãi suất, hẹn 02 tháng, cụ thể đến ngày 14/5/2019 sẽ trả.
- - Ngày 25/01/2021, ông H mượn của bà A số tiền 20.000.000 đồng, không ghi lãi suất, hẹn 03 tháng, tức là đến ngày 25/4/2021 sẽ trả.
- - Ngày 29/01/2021, ông H mượn thêm của bà A số tiền 10.000.000 đồng, không ghi lãi suất, hẹn 29 âm lịch trong tháng (tức ngày 10/02/2021) sẽ trả.
Mặc dù thời hạn các khoản vay đều đã quá hạn, bà A đã yêu cầu nhiều lần nhưng ông H không trả. Do đó, bà A yêu cầu Toà án giải quyết:
Về tiền gốc: Buộc ông Lê Văn H trả cho bà Hoàng Thị Nhật A tổng số tiền gốc 03 khoản vay là 80.000.000 đồng.
Về tiền lãi: Do trong các giấy vay không ghi mức lãi suất, nên bà A yêu cầu lãi suất theo quy định của pháp luật là 10%/năm (tương đương 0,833%/tháng hoặc 0.0277%/ngày) cho các khoản vay kể từ ngày bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
- - Khoản vay ngày 14/3/2019, số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời hạn bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngày 15/5/2019. Thời gian tính lãi từ ngày 15/5/2019 đến ngày 17/12/2024 là 05 năm 07 tháng 02 ngày (2037 ngày). Thành tiền: 2037 ngày x 0,0277%/ngày x 50.000.000 đồng = 28.212.450 đồng (Hai mươi tám triệu hai trăm mười hai nghìn bốn trăm năm mươi đồng).
- - Khoản vay ngày 25 tháng 01 năm 2021, số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), thời hạn bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngày 26/4/2019. Thời hạn tính lãi từ ngày 26/4/2021 đến ngày 17/12/2024 là 03 năm 07 tháng 21 ngày (1326 ngày). Thành tiền: 1326 ngày x 0,0277%/ngày x 20.000.000 đồng = 7.346.040 (Bảy triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm bốn mươi đồng).
- - Khoản vay ngày 29/01/2021, số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), thời hạn bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngày 11/02/2021. Thời hạn tính lãi từ ngày 11/02/2021 đến ngày 17/12/2024 là 03 năm 10 tháng 06 ngày (1401 ngày). Thành tiền: 1401 ngày x 0,0277%/ngày x 10.000.000 đồng = 3.880.770 đồng (Ba triệu tám trăm tám mươi nghìn bảy trăm bảy mươi đồng).
Tổng tiền lãi các khoản vay tính đến ngày 17/12/2024 là: 39.439.260 đồng.
Tổng tiền gốc và tiền lãi yêu cầu ông Lê Văn H phải trả là: Tiền gốc 80.000.000 đồng + tiền lãi 39.439.260 đồng = 119.439.260 đồng (Một trăm mười chín triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn hai trăm sáu mươi đồng).
Quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm và tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn rút yêu cầu buộc ông H trả khoản tiền lãi 39.439.260 đồng, chỉ yêu cầu ông H trả khoản tiền gốc 80.000.000 đồng.
- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Văn H trình bày:
- Về tiền gốc:
- + Ông H thừa nhận số tiền 20.000.000 đồng vay ngày 25/01/2021 và số tiền 10.000.000 đồng vay ngày 29/01/2021. Tổng cộng hai khoản vay là 30.000.000 đồng
- + Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ông H trả số tiền 50.000.000 đồng vay ngày 14.3.2019. Vì số tiền này ông đã trả cho bà A, sau khi trả xong thì bà A đã xé giấy mượn tiền ngày 14.3.2019.
- Về tiền lãi: Ông H chấp nhận trả số tiền lãi của hai khoản vay 30.000.000 đồng, theo như nguyên đơn đã yêu cầu.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 44/2024/DS-ST ngày 17/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
Căn cứ Điều 463, khoản 1, khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-H ĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Nhật A, buộc bị đơn ông Lê Văn H có nghĩa vụ trả cho bà Hoàng Thị Nhật A số tiền 119.439.260 đồng, trong đó: Tiền gốc là 80.000.000 đồng; tiền lãi là: 39.439.260 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên lãi suất chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/12/2024, bị đơn ông Lê Văn H kháng một phần bản án sơ thẩm với lý do: Đã trả khoản tiền gốc 50.000.000 đồng cho bà Hoàng Thị Nhật A và bà A đã xé giấy mượn tiền. Đề nghị trưng cầu giám định lại giấy mượn tiền ngày 14/3/2019 tại Phân viện Khoa học hình sự - Bộ C tại thành phố Đà Nẵng và sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản vay ngày 14/3/2019, số tiền 50.000.000 đồng và tiền vay lãi là 28.212.450 đồng.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu quan điểm:
- - Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ Điều 166, Điều 463, khoản 1, khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- + Đình chỉ giải quyết vụ án đối với khoản tiền lãi mà bà Hoàng Thị Nhật A yêu cầu ông Lê Văn H phải trả số tiền là 39.439.260 đồng.
- + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Nhật A, buộc bị đơn ông Lê Văn H có nghĩa vụ trả cho bà Hoàng Thị Nhật A số tiền gốc là 80.000.000 đồng.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ giấy mượn tiền ngày 14/3/2019, ông Lê Văn H mượn của bà Hoàng Thị Nhật A số tiền 50.000.000 đồng, không ghi lãi suất, hẹn 02 tháng, cụ thể đến ngày 14/5/2019 sẽ trả. Giấy mượn tiền ngày 25/01/2021, ông Lê văn H mượn của bà Hoàng Thị Nhật A số tiền 20.000.000 đồng, không ghi lãi suất, hẹn 03 tháng, tức là đến ngày 25/4/2021 sẽ trả. Giấy mượn tiền ngày 29/01/2021, ông Lê văn H mượn thêm của bà Hoàng Thị Nhật A số tiền 10.000.000 đồng, không ghi lãi suất, hẹn 29 âm lịch trong tháng (tức ngày 10/02/2021) sẽ trả. Như vậy, thời hạn cuối cùng trả nợ theo các giấy mượn tiền thì ngày 25/4/2021 ông Lê Văn H phải trả cho bà Hoàng Thị Nhật A. Đến ngày 31/8/2024 bà Hoàng Thị Nhật A mới khởi kiện ông Lê Văn H về tranh chấp hợp đồng vay tài sản là hết thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong trường hợp này, bà Hoàng Thị Nhật A chỉ có quyền kiện đòi lại tài sản là khoản tiền gốc theo các giấy mượn tiền nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo Điều 166 Bộ luật dân sự.
- [2] Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự thì bị đơn ông Lê Văn H có quyền kháng cáo và việc kháng cáo được thực hiện trong thời hạn quy định. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
- [3] Đối với toàn bộ khoản tiền lãi mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Lê Văn H phải trả với số tiền 39.439.260 đồng: Quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với khoản tiền lãi 39.439.260 đồng và không yêu cầu ông H phải trả; xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, bị đơn đồng ý và đảm bảo đúng quy định của pháp luật nên cần đình chỉ giải quyết vụ án đối với việc nguyên đơn bà Hoàng Thị Nhật A yêu cầu bị đơn ông Lê Văn H phải trả khoản tiền lãi với số tiền 39.439.260 đồng.
- [4] Xét kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H:
Bị đơn ông Lê Văn H kháng cáo cho rằng, ông H đã trả cho bà A số tiền gốc 50.000.000 đồng theo giấy giấy mượn tiền ngày 14/3/2019 và bà A đã xé giấy mượn tiền; đồng thời đề nghị cấp phúc thẩm trưng cầu giám định lại giấy mượn tiền ngày 14/3/2019 tại Phân viện Khoa học hình sự - Bộ C tại thành phố Đà Nẵng; Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết giai đoạn sơ thẩm, theo yêu cầu của bị đơn ông Lê
Văn H, ngày 27/11/2024 Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 01/2024/QĐ-TCGĐ đối với Giấy mượn tiền đứng tên Lê Văn H, ghi ngày 14/3/2019 và tại Quyết định số 438/KL-KTHS ngày 06/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Q đã kết luận: “Nội dung chữ viết, chữ ký trên Giấy mượn tiền đứng tên Lê Văn H, ghi ngày 14/3/2019 gửi đến giám định không bị rách, tách rời”. Do đó, bị đơn ông Lê Văn H đề nghị trưng cầu giám định lại giấy mượn tiền ngày 14/3/2019 nhưng không đưa ra căn cứ chứng minh kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật. Hội đồng xét xử thấy rằng việc trưng cầu giám định của Toà án cấp sơ thẩm được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật; kết luận giám định đầy đủ, rõ ràng và không có phát sinh vấn đề mới liên quan đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận để trưng cầu giám định lại theo yêu cầu của bị đơn ông Lê Văn H.
Căn cứ giấy mượn tiền do ông Lê văn H lập ngày 14/3/2019, thể hiện việc ông H mượn của bà A số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn mượn hai tháng và đã nhận đủ số tiền mượn nên hợp đồng vay tài sản giữa bà A và ông H đảm bảo về mặt hình thức và nội dung. Tại phiê toà, ông H cũng thừa nhận có vay của bà A số tiền 50.000.000 đồng nhưng đã trả cho bà A nhưng ông H không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã trả cho bà A số tiền 50.000.000 đồng và cũng không có chứng cứ chứng minh có thoả thuận giữa bà A và ông H là sau khi ông H trả tiền thì bà A xé giấy mượn tiền. Mặt khác, kết luận giám định đã khẳng định “Nội dung chữ viết, chữ ký trên Giấy mượn tiền đứng tên Lê Văn H, ghi ngày 14/3/2019 gửi đến giám định không bị rách, tách rời”. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H về việc đã trả cho nguyên đơn Hoàng Thị Nhật A số tiền gốc 50.000.000 đồng.
- [5] Về chi phí tố tụng và án phí: Quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, ông H yêu cầu trưng cầu giám định chi phí hết 3.000.000 đồng nên bị đơn ông Lê Văn H phải chịu số tiền chi phí giám định là 3.000.000 đồng (ông H đã nộp đủ).
Bị đơn ông Lê Văn H là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên ông H được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ Điều 166, Điều 357, Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xử:
- - Đình chỉ giải quyết vụ án đối với khoản tiền lãi mà nguyên đơn bà Hoàng Thị Nhật A yêu cầu bị đơn ông Lê Văn H phải trả số tiền là 39.439.260 đồng (ba mươi chín triệu bốn trăm ba mươi chín ngàn hai trăm sáu mươi ngàn đồng).
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Nhật A. Buộc bị đơn ông Lê Văn H phải có nghĩa vụ trả cho bà Hoàng Thị Nhật A số tiền gốc là 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn H phải chịu số tiền chi phí giám định là 3.000.000 đồng (ông Lê Văn H đã nộp đủ).
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Nguyên đơn bà Hoàng Thị Nhật A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Hoàng Thị Nhật A số tiền tạm ứng án phí là 2.919.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000531 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Bị đơn ông Lê Văn H được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Những phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Phước |
Bản án số 06/2025/DS-PT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 06/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản giữa bà Hoàng Thị Nhật A với Lê Văn H
