Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/DS-PT

Ngày: 05/01/2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Giang
Bà Nguyễn Thị Trang Thư
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần thơ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04 và 05 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 475/2023/TLPT-DS ngày 16 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 125/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 536A/2023/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Cao Thị Mỹ L, sinh năm 1959
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1969.
Địa chỉ: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ liên lạc: Số H, đường X, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Văn C, Văn phòng L2, Đoàn Luật sư thành phố C.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Quốc V, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Số G, đường C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: I, Khu V Sông H, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Diễm T1, sinh năm 1988.
Cùng địa chỉ: Số B, V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trần Minh T2, Công ty L3, Đoàn Luật sư thành phố C.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phạm Hữu C1, sinh năm 1983.
2. Bà Thái Thị L1, sinh năm 1988.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Hữu C1, bà Thái Thị L1: Bà Cao Thị Mỹ L.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
3. Ông Dương Quang T3, sinh năm 1942.
Địa chỉ: Số A, khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Địa chỉ liên lạc: Số I, đường N, khu V Sông H, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
4. Bà Tô Ngọc H, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Số G, đường C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ liên lạc: Số I, đường N, khu V Sông H, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
5. Công ty TNHH Đ1
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Tô Ngọc H.
Địa chỉ: I, Khu V Sông H, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
6. Ngân hàng TMCP Đ2
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T4.
7. Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Cần Thơ
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Thanh T5.
8. Ủy ban nhân dân xã T, huyện T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày và yêu cầu: Vào năm 1959, ông Cao Văn Đ và bà Nguyễn Thị N có nhận bà Cao Thị Mỹ L là con nuôi. Ngoài bà L thì ông Đ, bà N không có con ruột, con riêng hay con nuôi nào khác. Từ nhỏ bà đã sống với ông Đ, bà N tại thửa đất số 323, diện tích 1.600m², tờ bản đồ số 4, tọa lạc hiện nay tại T (trước đây là ấp T), xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Nguồn góc phần đất này là của cha ông Đ là ông Cao Văn M để lại cho ông Đ, bà N. Ông Đ, bà N chết không để lại di chúc. Đến năm 2018 bà L đi kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện đất đã được cấp giấy chứng nhận cho ông Dương Quang T3 nên bà L có khiếu nại Ủy ban nhân dân xã T. Tuy nhiên Ủy ban nhân dân xã T không mời được ông Dương Quang T3, ông Huỳnh Quốc V nên chuyển hồ sơ giải quyết đến Ủy ban nhân huyện T giải quyết. Nguyên đơn bà Cao Thị Mỹ L yêu cầu các nội dung:

+ Yêu cầu ông Huỳnh Quốc V trả lại cho bà L phần đất diện tích 1.600m², thuộc thửa 323, tờ bản đồ số 04, tọa lạc hiện nay tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ;
+ Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 432384, số vào sổ cấp GCNQSDĐ số: 002810/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện Ô cấp ngày 22/9/1996 cho ông Dương Quang T3 đối với thửa 323, tờ bản đồ số 04, diện tích 1.600m², tọa lạc hiện nay tại ấp T (trước đây là ấp T), xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ;
+ Yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 192, quyển số 02/2009/CC-SCT/HĐGD lập ngày 19/6/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, giữa ông Dương Quang T3 với ông Huỳnh Quốc V.

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là:

+ Biên bản xác minh ngày 28/01/2019 của Ủy ban nhân dân xã T đối với nguồn gốc đất, cụ thể là ý kiến của ông Trương Văn T6, Lê Văn Q.
+ Theo trích lục hồ sơ địa chính thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Dương Quang T3 là sai về trình tự thủ tục, cụ thể: Tại đơn xin chuyển nhượng, bán kết quả lao động và đầu tư đề ngày 14/07/1996 thì ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện Ô và ý kiến của Phòng địa chính Ô M1 là mâu thuẫn nhau. Thực tế tại Ủy ban nhân dân xã TỦy ban nhân dân xã T không tồn tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 192 quyển số 02/2009/CC-SCT/HĐGD ngày 19/6/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T như xác nhận của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tại phần những thay đổi sau khi cấp chứng nhận vào ngày 20/01/2010 trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 432384, số vào sổ cấp GCNQSDĐ số: 002810/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện Ô cấp ngày 22/9/1996 cho ông Dương Quang T3.
+ Tại đơn yêu cầu phản tố, quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày và yêu cầu: Nguồn gốc phần đất diện tích 1.600m², thuộc thửa 323, tờ bản đồ số 04, tọa lạc hiện nay tại T (trước đây là ấp T), xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, là của ông Cao Văn Đ và bà Nguyễn Thị N. Bà Nguyễn Thị N có hai người con nuôi là ông Dương Quang T3 và bà Cao Thị Mỹ L. Sau khi ông Đ chết, đến năm 1994 bà Nguyễn Thị N được Ủy ban nhân dân huyện Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: 002810.QSDĐ ngày 06/8/1994. Sau đó bà N làm thủ tục chuyển nhượng phần đất này cho ông Dương Quang T3 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Phòng Địa chính huyện Ô xác nhận vào ngày 18/7/1996. Đến năm 2009, ông Dương Quang T3 chuyển nhượng cho ông Huỳnh Quốc V toàn bộ phần đất này. Phần đất này ông Huỳnh Quốc V đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP P sở G (nay là Ngân hàng TMCP Đ2) theo hồ sơ số 000387 ngày 05/4/2012. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Huỳnh Quốc V không đồng ý vì việc chuyển quyền sử dụng đất từ bà N sang ông T3, từ ông T3 sang ông V là đúng với quy định pháp luật. Bị đơn có yêu cầu phản tố, yêu cầu bà Cao Thị Mỹ L, ông Phạm Hữu C1, bà Thái Thị L1 di dời, giao trả phần đất diện tích 1.600m2, thuộc thửa 323, tờ bản đồ số 04, tọa lạc hiện nay tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Tô Ngọc H trình bày: Bà là vợ của ông Huỳnh Quốc V, con ruột ông Dương Quang T3. Năm 1996 cha bà là ông Dương Quang T3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 432384 đối với thửa 323, diện tích 1.600m², tờ bản đồ số 04, tọa lạc hiện nay tại T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Đến năm 2009 cha bà chuyển nhượng lại cho vợ chồng bà theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập tại Văn phòng công chứng 24h, ngoài ra không có bất kỳ hợp đồng chuyển nhượng nào khác giữa cha bà và vợ chồng bà. Việc ngày 20/01/2010, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T xác nhận tại mục những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận nội dung “ông Huỳnh Quốc V nhận chuyển nhượng theo Hợp đồng số 192 quyển số 02/2009/CC-SCT/HĐGD lập ngày 19/6/2009 tại UBND xã T” có thể do nhầm lẫn, từ trước đến nay gia đình bà không để ý nên không phát hiện. Hiện nay ông Dương Quang T3 đang sống với gia đình bà tại địa chỉ số I, đường N, KV C Sông H, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ. Năm 2012 vợ chồng bà có thế chấp phần đất này để đảm bảo cho hợp đồng vay tại Ngân hàng TMCP P sở G (nay là Ngân hàng TMCP Đ2) theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0403/2012/HĐTC-DN-SGD ngày 05/4/2012. Hiện tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa P1Công ty TNHH Đ1. Quá trình sử dụng đất ổn định từ lúc cha bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không tranh chấp gì, đến hôm nay bà L mới khởi kiện, trong khi bà N chết năm 2007. Do đó bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà L. Bà thống nhất với trình bày và yêu cầu phản tố của ông V.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên Ngân hàng TMCP Đ2 trình bày: Ông Huỳnh Quốc VNgân hàng TMCP P2 – Sở G (nay là Ngân hàng TMCP Đ2) có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0403/2012/HĐTC-DN.SGD ngày 05/4/2012 tại Văn phòng C2 thành phố Cần Thơ để bảo đảm cho khoản vay giữa Công ty TNHH Đ1 theo Hợp đồng cấp tín dụng số 0503/2012/HĐHM-DN.SGD ngày 06/4/2012. Hợp đồng thế chấp nêu trên được ký kết đúng quy định pháp luật và được đăng ký thế chấp ngày 05/4/2012 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T. Hiện tại Ngân hàng TMCP Đ2 đã khởi kiện vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng với Công ty TNHH Đ1 và Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đang thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì phía Ngân hàng TMCP Đ2 không đồng ý. Đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật giải quyết về tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Cao Thị Mỹ L với ông Huỳnh Quốc V, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại Công văn số 1533/UBND-TNMT ngày 11/7/2022 của Ủy ban nhân dân huyện T có ý kiến: Không có ý kiến về nội dung tranh chấp.
- Tại Công văn số 49/UBND ngày 20/02/2023 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T có ý kiến: Tại thời điểm ngày 19/6/2009 Ủy ban nhân dân xã T không có chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Dương Quang T3 với ông Huỳnh Quốc V, bà Tô Ngọc H tại thửa 323, tờ bản đồ số 04, diện tích 1.600m² (ONT + CLN) tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đưa vụ án ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số: 87/2023/DS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên như sau:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
  3. Buộc bà Cao Thị Mỹ L, ông Phạm Hữu C1, bà Thái Thị L1 có trách nhiệm giao trả phần đất thuộc thửa 323, tờ bản đồ số 04, diện tích đo đạc thực tế là 1230.7m², tọa lạc hiện nay tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, theo trích đo địa chính số 97/TTKTTNMT ngày 28/12/2022 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Theo hồ sơ thể hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Dương Quang T3 và ông Huỳnh Quốc V là trái với quy định pháp luật. Về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thiếu sót, cả ông T3 và ông V đều không có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất trong khi đó tại Điều 696 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định “việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm được đăng ký quyền sử dụng đất tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền”. Ngoài ra, do các bên xác lập giao dịch mà không có giao đất trên thực địa dẫn đến việc tại phiên xem xét thẩm định tại chỗ, phía bị đơn không xác định được ranh đất của thửa đất đang tranh chấp. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bác yêu cầu phản tố của bị đơn.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bác yêu cầu phản tố của bị đơn.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Bị đơn xác định việc chuyển nhượng từ bà N sang ông T3, từ ông T3 là đúng trình tự thủ tục luật định. Bà năm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã chuyển nhượng cho ông T3 và ông T3 cũng được Ủy ban nhân dân huyện Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 22/7/1996. Sau đó, ông V nhận chuyển nhượng hợp pháp của ông T3, sử dụng ổn định không ai tranh chấp, ông V đã được cơ quan chức năng xác nhận chuyển nhượng, đã thế chấp vay Ngân hàng đến lần thứ hai. Từ đó có căn cứ xác nhận việc bà N chuyển nhượng cho ông T3, ông T3 chuyển nhượng lại cho ông V là hợp pháp nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bà Tô Ngọc H đại diện cho Công ty TNHH Đ1 cũng đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung vụ án: năm 1994 bà Nguyễn Thị N đăng ký kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 323, tờ bản đồ số 04, diện tích đo đạc thực tế là 1.600m², tọa lạc hiện nay tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Ngày 14/7/1996 bà Nguyễn Thị N ký hợp đồng chuyển nhượng, bán kết quả lao động và đầu tư đối với thửa đất trên cho ông Dương Quang T3 và ông Dương Quang T3 được Ủy ban nhân dân huyện Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 22/7/1996. Đối chiếu hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T3 thấy rằng cấp có thẩm quyền đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật. Đến ngày 19/6/2009 ông Dương Quang T3 ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa 323 cho ông Huỳnh Quốc V, ngày 22/7/1996 được Ủy ban nhân dân huyện Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Quốc V theo đúng quy định của pháp luật. Thửa đất này hiện ông V đã ký hợp đồng thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo khoản vay của Công ty TNHH Đ1. Xét hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Dương Quang T3 và ông Huỳnh Quốc V đối với phần đất thuộc thửa 323, tờ bản đồ số 04, diện tích đo đạc thực tế là 1.600m², tọa lạc hiện nay tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ là theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết tại Văn phòng công chứng 24h nên nguyên đơn yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 192, quyển số 02/2009/CC-SCT/HĐGD lập ngày 19/6/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, giữa ông Dương Quang T3 với ông Huỳnh Quốc V là phù hợp. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là phù hợp. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại tòa phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên; của luật sư và những người tham gia tố tụng khác.

[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Bị đơn có yêu cầu phản tố, yêu cầu nguyên đơn giao phần đất tranh chấp cho bị đơn. Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là phù hợp.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bác yêu cầu phản tố của bị đơn nhận thấy:

[2.1] Thứ nhất, theo Sổ đăng ký ruộng đất năm 1992 thể hiện thửa 323, tờ bản đồ số 04, diện tích đo đạc thực tế là 1.600m², tọa lạc hiện nay tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ do bà Nguyễn Thị N đăng ký kê khai, ngày 24/7/1994 bà N có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất, đến ngày 06/8/1994 bà Nguyễn Thị N được Ủy ban nhân dân huyện Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà N sử dụng đấtcho đến khi bà N chết vào ngày 06/02/2007.
[2.2]Thứ hai, ngày 14/7/1996 bà Nguyễn Thị N ký hợp đồng chuyển nhượng, bán kết quả lao động và đầu tư đối với thửa 323, tờ bản đồ số 04, diện tích 1.600m² cho ông Dương Quang T3, hợp đồng này có chữ ký và dấu lăn tay của bà Nguyễn Thị N, có ý kiến xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T. Ông Dương Quang T3 được Ủy ban nhân dân huyện Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 22/7/1996. Qua xem xét hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T3 thấy rằng, sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng, bán kết quả lao động và đầu tư giữa ông T3 với bà N, ông Dương Quang T3 đã thực hiện thủ tục khai lệ phí trước bạ và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phù hợp theo quy định tại Điều 30, Điều 31 Luật đất đai năm 1993; Điều 707, Điều 708, Điều 709 Bộ luật dân sự năm 1995.
[2.3]Thứ ba, ngày 19/6/2009 ông Dương Quang T3 ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa 323 cho ông Huỳnh Quốc V. Ông V đã thực hiện thủ tục khai lệ phí trước bạ, ngày 22/7/1996 được Ủy ban nhân dân huyện Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Quốc V. Xét hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Dương Quang T3 và ông Huỳnh Quốc V đối với phần đất thuộc thửa 323, tờ bản đồ số 04, diện tích đo đạc thực tế là 1.600m², tọa lạc hiện nay tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, là đúng quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 46; khoản 1 Điều 106; Điều 127 Luật đất đai năm 2003; khoản 2 Điều 689 Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó, phía nguyên đơn cho rằng ông V không có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất như bà N đã thực hiện khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên vô hiệu là không có cơ sở chấp nhận.
[2.4]Thứ tư, ngày 05/4/2012 Ông Huỳnh Quốc VNgân hàng TMCP P2 – Sở G (nay là Ngân hàng TMCP Đ2) có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0403/2012/HĐTC-DN.SGD đối với thửa đất đang tranh chấp để bảo đảm cho khoản vay giữa Công ty TNHH Đ1 với Ngân hàng theo Hợp đồng cấp tín dụng số 0503/2012/HĐHM-DN.SGD ngày 06/4/2012. Hợp đồng thế chấp nêu trên được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và đã đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T vào ngày 05/4/2012.
[2.5]Thứ năm, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 192, quyển số 02/2009/CC-SCT/HĐGD lập ngày 19/6/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, giữa ông Dương Quang T3 với ông Huỳnh Quốc V. Tại Công văn số 76/CV-CNVPĐKĐĐ ngày 04/4/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, Công văn số 49/UBND ngày 20/02/2023 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T cho rằng không chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T3 với ông V. Tuy nhiên, giữa ông T3 với ông V xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại VPCC 24h nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 192, quyển số 02/2009/CC-SCT/HĐGD lập ngày 19/6/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, giữa ông Dương Quang T3 với ông Huỳnh Quốc V là phù hợp.

[3] Từ những phân tích trên cho thấy phía nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

[4] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên nguyên đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Cao Thị Mỹ L.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
  3. Buộc bà Cao Thị Mỹ L, ông Phạm Hữu C1, bà Thái Thị L1 có trách nhiệm giao trả cho bị đơn Ông Huỳnh Quốc V phần đất thuộc thửa 323, tờ bản đồ số 04, diện tích đo đạc thực tế là 1230.7m², tọa lạc hiện nay tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, theo trích đo địa chính số 97/TTKTTNMT ngày 28/12/2022 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
  4. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Nguyên đơn đã nộp tạm ứng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) và chi xong.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Nguyên đơn được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    • Ông Phạm Hữu C1, bà Thái Thị L1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • Bị đơn được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu số 0005405 ngày 12/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

- Án phí dân sự phúc thẩm: miễn án phí cho nguyên đơn.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - TAND huyện Thới Lai;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Chi Cục THADS H. Thới Lai;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/DS-PT ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 06/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà L cho rằng ông V không có quyền thừa kế đất của cha mẹ nên bà đòi lại tuy nhiên ông V đã thế chấp ngân hàng 10 năm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger