|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2024/ KDTM -ST Ngày: 30-9-2024. Về việc: Tranh chấp về Hợp đồng mua bán hàng hóa. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Phương.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Quách Thị Thu Hương
- Bà Đinh Thị Hồng Phúc
- Thư ký phiên tòa: bà Tống Thị Huê – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Lê Đức Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 08/2024/TLST- KDTM ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc: “ Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐST- KDTM ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QĐHPT- KDTM ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH một thành viên B; địa chỉ: Khu công nghiệp T, giai đoạn A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Huỳnh Văn V sinh năm 1992; địa chỉ: số A, T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ là người đại diện theo ủy quyền ( giấy uỷ quyền tham gia tố tụng ngày 08/01/2024).
- Bị đơn: Công ty TNHH T2; địa chỉ: số 19, ngõ 24, đường Đinh Tiên Hoàng, phố 3, phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình;
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: ông Vũ Đình T sinh năm 1974; địa chỉ: số nhà D, ngõ H, phố T, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; là người đại diện theo pháp luật (Chủ tịch Công ty kiêm Giám đốc).
2
Tại phiên tòa vắng mặt ông Huỳnh Văn V (có đơn xin vắng mặt) và ông Vũ Đình T (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Huỳnh Văn V trình bày: Ngày 16/5/2022, Công ty TNHH MTV B (Bên A) ký kết hợp đồng kinh tế số 16.5/HDKT/2022/QTH-HMC với Công ty TNHH T2 ( Bên B) về việc sản xuất và cung cấp cộc vuông bê tông cốt thép cho Dự án xây dựng đê bao ngăn mặn kết hợp đường giao thông nối liền các huyện B - B- T, tỉnh Bến Tre ( giai đoạn 2), hạng mục Cầu Băng C với nội dung như sau: Bên A đồng ý giao và Bên B đồng ý nhận cung cấp cọc vuông bê tông cốt thép. Chủng loại cọc, đặc điểm và quy cách kỹ thuật căn cứ theo bản vẽ thiết kế đã được chủ đầu tư phê duyệt 2 bên thống nhất. Giá trị hợp đồng tạm tính là 10.451.916.000 đồng; Thanh toán: làm 03 đợt:
+ Đợt 1: Bên A tạm ứng cho bên B với số tiền 1.000.000.000 đồng, ngay sau khi ký kết hợp đồng, số tiền này được giữ nguyên cho đến khi 2 bên quyết toán giá trị mua bán trong hợp đồng
+ Đợt 2: Khi Bên B sản xuất đủ 100% số lượng theo đơn đặt hàng của bên A. bên A sẽ thanh toán 70% giá trị đơn hàng, sau khi bên A nhận hàng tại Công trình.
+ Đợt 3: Khi bên B đã giao đủ theo khối lượng hàng hóa trong hợp đồng thì sau 10 ngày bên A phải quyết toán toàn bộ công nợ cho bên B.
Theo yêu cầu đặt hàng của Công ty T2, phía Hamaco đã tiến hành thực hiện hợp đồng, giao hàng đầy đủ, đúng chất lượng và xuất hóa đơn bán hàng cho phía Công ty T2. Đồng thời H cũng đã cùng cấp các hồ sơ để nghị Công ty T2 thực hiện thanh toán theo nội dung Hợp đồng mà 12 bên đã ký. Ngày 13/12/2022, Hai bên tiến hành chốt khối lượng bằng hồ sơ thanh quyết toán Công trình xây dựng đê bao ngăn mặn kết hợp đường giao thông nối liền các huyện B- B -T, hạng mục Cầu Băng C. Theo nội dung thanh quyết toán thì Công ty T2 còn phải thanh toán cho H số tiền gốc là 5.355.904.000 đồng. Ngày 01/02/2023 hai bên tiến hành đối chiếu, xác nhận công nợ bằng T1 xác nhận công nợ. Theo nội dung T1 xác nhận Công ty T2 xác nhất đang nợ Hamaco số tiền nợ gốc là 5.355.904.000 đồng.
Sau khi xác nhận công nhận công nợ, H đã nhiều lần liên hệ Công ty T2 để yêu cầu thanh toán công nợ. Tuy nhiên, đến nay H1 vẫn chưa nhận được tiền thanh toán. Vì vậy, H yêu cầu Công ty TNHH T2 thanh toán số tiền nợ gốc 5.355.904.000 đồng và lãi chậm thanh toán của số tiền nợ
3
gốc tính từ ngày 01/12/2023 đến ngày 30/9/2024 với mức lãi suất 10%/ năm là 936.182.672 đồng, tổng số tiền Công ty T2 phải trả là 6.292.086.672 đồng
Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho bị đơn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người đại diện hợp của bị đơn không có văn bản ý kiến và không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; không đến Tòa án làm tự khai và không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 24, 50, 306 Luật thương mại năm 2005; Điều 11, điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV B
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH T2 phải nộp án phí 114.292.086 đồng. Công ty TNHH MTV B không phải nộp án phí. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí 57.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000208 ngày 20/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình cho Công ty TNHH MTV B
Buộc Công ty TNHH T2 phải thanh toán cho Công ty TNHH MTV B tính đến ngày xét xử 30/9/2024 tổng số tiền 6.292.086.672 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 5.355.904.000 đồng, tiền lãi chậm thanh toán là 936.182.672 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
4
- Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty TNHH MTV B (sau đây viết tắt là Công ty B) khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH T2 (sau đây viết tắt là Công ty TNHH T2) thanh toán tiền hàng và lãi chậm thanh toán theo hợp đồng kinh tế số 16.5/HDKT/2022/QTH-HMC ngày 16/5/2022. Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các pháp nhân và đều có mục đích lợi nhuận. Công ty T2 có trụ sở tại phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Người đại diện hợp pháp của Công ty B là ông Huỳnh Văn V có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về yêu cầu của nguyên đơn:
- Về yêu cầu thanh toán tiền hàng còn nợ 5.355.904.000 đồng: Ngày 16/5/2022, Công ty B ký kết hợp đồng kinh tế số 16.5/HDKT/2022/QTH-HMC với Công ty T2 về việc về việc sản xuất và cung cấp cộc vuông bê tông cốt thép. Việc ký kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực pháp luật. Căn cứ vào hợp đồng trên, Công ty B đã sản xuất, giao hàng và xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty T2 theo đúng thỏa thuận giữa hai bên. Tuy nhiên Công ty T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán Công ty B là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại Điều 5 Hợp đồng kinh tế số 16.5/HĐKT/2022/QTH-HMC ngày 16/5/2022. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn giao, nộp gồm hợp đồng kinh tế số 16.5-HDKT/2022/QTH-HMC ngày 16/5/2022, Phiếu giao hàng, Biên bản nghiệm thu khối lượng, các hóa đơn giá trị gia tăng và hồ sơ quyết toán ngày 13/12/2022, T1 xác nhận công nợ ngày 01/02/2023 đối với công trình xây dựng Đê bao ngăn mặn kết hợp đường giao thông nối liền các huyện B - B- Thạnh Phủ ( tỉnh Bến Tre), hạng mục Cầu Bông C1 thì đến ngày 13/12/2022 Công ty T2 còn nợ Công ty Bê tông Hamaco tiền hàng là 5.355.904.000 đồng.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty T2 là ông Vũ Đình T vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà không có lý do. Do vậy để đảm bảo quyền lợi của các đương sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc giao nộp tài liệu, chứng cứ và Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Nhưng bị đơn không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tài liệu,
5
chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Xét thấy bị đơn không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện và tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao, nộp nên có cơ sở xác định số tiền hàng Công ty T2 còn nợ Công ty B là 5.355.904.000 đồng. Do đó Công ty B yêu cầu Công ty T2 phải thanh toán số tiền hàng còn nợ 5.355.904.000 đồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 50 Luật thương mại năm 2005.
- Về yêu cầu thanh toán tiền lãi chậm thanh toán là 936.182.672 đồng: quá trình thực hiện hợp đồng Công ty T2 không thanh toán đầy đủ tiền hàng cho Công ty B nên đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và phát sinh tiền lãi chậm thanh toán. Do hai bên không thỏa thuận về lãi chậm thanh toán trong Hợp đồng kinh tế số 16.5-HDKT/2022/QTH-HMC ngày 16/5/2022 nên tiền lãi chậm thanh toán và mức lãi suất được xác định theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại, cụ thể: «... bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả...». Căn cứ thỏa thuận tại Điều 5, khoản 6.1 Điều 6 của Hợp đồng kinh tế số 16.5/HĐKT/2022/QTH-HMC ngày 16/5/2022 “Khi bên B ( Công ty B) đã giao đủ theo khối lượng hàng hóa trong hợp đồng thì sau 10 ngày bên A (Công ty T2) phải quyết toán toàn bộ công nợ cho bên B”. Ngày ngày 13/12/2022 hai bên tiến hành xác nhận hồ sơ thanh quyết toán nên Công ty T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán là ngày 24/12/2022. Tuy nhiên, Công ty B yêu cầu tính lãi chậm thanh toán từ ngày 01/01/2023 là có lợi cho bị đơn nên cần chấp nhận. Về mức lãi suất chậm thanh toán là 10%/năm theo yêu cầu của nguyên đơn: Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ về mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại ba ngân hàng có chi nhánh tại tỉnh Ninh Bình đối với khoản vay ngắn hạn, cụ thể: Ngân hàng TMCP S lãi suất 12,75%/năm, Ngân hàng TMCP N là 11,25/%/năm, Ngân hàng N1 là 11,06%. Lãi suất nợ quá hạn trung bình của ba ngân hàng nêu trên tại thời điểm xét xử là 11,69%. Căn cứ mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán theo quy định Điều 306 Luật Thương mại, được hướng dẫn tại Điều 11 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP11/01/2019 thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi suất chậm thanh toán là 10%/năm thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ba ngân hàng là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó Công ty T2 phải trả cho Công ty B số tiền lãi chậm chậm thanh toán tính từ ngày 01/01/2023 đến ngày 30/9/2024 (638 ngày) với mức lãi suất 10%/ 1 năm là: {(5.355.904.000 đồng x 10%): 365 ngày} x 638 = 936.182.672 đồng.
Từ những phân tích trên buộc Công ty T2 có nghĩa vụ trả cho Công ty B tổng số tiền hàng và tiền lãi chậm thanh toán là: 5.355.904.000 đồng + 936.182.672 đồng = 6.292.086.672 đồng.
6
- [3] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên Công ty B không phải nộp án phí, được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 57.000.000 đồng. Công ty T2 phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trên số tiền 6.292.086.672 đồng phải trả cho nguyên đơn là: 112.000.0000 đồng + 0,1% x (6.292.086.672 đồng – 4.000.000.000 đồng ) = 114.292.086 đồng.
- [4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 50, Điều 306 Luật thương mại; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 11 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP11/01/2019
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV B đối với Công ty TNHH T2 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa ".
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Buộc Công ty TNHH T2 có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH MTV B số tiền 6.292.086.672 đồng ( sáu tỷ hai trăm chín mươi hai triệu không trăm tám mươi sáu nghìn sáu trăm bảy hai đồng); trong đó tiền nợ gốc là 5.355.904.000 đồng (năm tỷ ba trăm năm mươi năm triệu chín trăm linh bốn đồng) và tiền lãi chậm thanh toán là 936.182.672 đồng (chín trăm ba mươi sáu triệu một trăm mười hai nghìn sáu trăm bảy hai đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Công ty TNHH T2 phải nộp 114.292.086 đồng (một trăm mười bốn triệu hai trăm chín mươi hai nghìn không trăm tám mươi sáu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Trả lại cho Công ty TNHH MTV B 57.000.000 đồng (năm mươi bảy triệu
7
đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000208 ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Phương |
Bản án số 06/2024/ KDTM -ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 06/2024/ KDTM -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHHMTV Bê tông H - Công ty TNHH thương mại Quang T
