Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 06/2024/KDTM-ST

Ngày: 09 - 8 - 2024

“V/v tranh chấp về hợp đồng

tín dụng, thế chấp”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo

Ông Trần Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Loan - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 tháng 7 và 09 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 09/2024/TLST-KDTM ngày 09 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng, thế chấp”, theo Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 119/2024/QĐST-KDTM ngày 24 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V2); Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt), tòa nhà S - 111 A, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V, chức vụ: Tổng giám đốc. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thành C, chức vụ: Giám đốc thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ - Trung tâm quản lý nợ ngân hàng B1 - Khối ngân hàng bán lẻ V2; địa chỉ liên hệ: Tầng D, tòa nhà C, số D T, quận Đ, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền lại của ông Trần Thành C : Ông Chu Quang M, ông Phạm Văn K, ông Châu Văn T - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q; Địa chỉ liên hệ: Tầng D, tòa nhà C, số D T, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Ông M, ông T vắng mặt, ông K có mặt).

2. Bị đơn: Anh Trần Văn T1, sinh năm 1983 và chị Hoàng Ái D, sinh năm 1993; Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 07 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V2) trình bày:

Ngân hàng TMCP Q - V2 (Sau đây gọi tắt là V2) cấp tín dụng cho Anh Trần Văn T1 và Chị Hoàng Ái D chi tiết theo Hợp đồng tín dụng cụ thể như sau:

Hợp đồng tín dụng số: 9064828.22 ngày 28/06/2022 với nội dung: VIB cho anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D vay số tiền 1.220.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Kinh doanh chăn ga gối đệm;

Thời hạn vay: 12 tháng từ ngày: 30/06/2022 đến 29/06/2023. Lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9.3 %/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 06 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời gian ưu đãi nói trên, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4.2%/ năm. Hoàn trả khoản tín dụng gốc: Cuối kỳ ngày, ngày trả lãi: Vào ngày 28 hàng tháng theo dư nợ thực tế, ngày trả nợ lãi đầu tiên 28/07/2022. Trả phí: Theo quy định của V2 từng thời kỳ.

Ngày 29/06/2022 V2 đã giải ngân cho anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 9064828(1).22 với số tiền 1.220.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.

Các biện pháp bảo đảm tiền vay:

Tài sản bảo đảm 1: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 135, tờ bản đồ số: 04, địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Theo chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 710419, số vào sổ cấp GCN:CS 00365 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 29/11/2021 cho ông Nguyễn Văn V1, ngày 05/05/2022 chuyển nhượng cho anh Trần Văn T1, sinh năm: 1983, CCCD: [...] và chị Hoàng Ái D, sinh năm: 1993, CCCD: [...], hộ khẩu thường trú tại: Xóm P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo hồ sơ số: 1856 ngày 26/04/2022.

Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 8235426.22 ngày 28/06/2022, số công chứng: 6441/2022, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, huyện D, tỉnh Nghệ An công chứng ngày 28/06/2022.

Tài sản bảo đảm 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 105, tờ bản đồ số: 53, địa chỉ: Xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Theo chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DG 217277, số vào sổ cấp GCN: CS 00315 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 23/05/2022 cho anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D.

Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 5017218.22 ngày 28/06/2022, số công chứng: 6440/2022, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, huyện D, tỉnh Nghệ An công chứng ngày 28/6/2022.

Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện hợp đồng Anh Trần Văn T1 và Chị Hoàng Ái D đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại HĐTD đã ký. Vì vậy, V2 đã chuyển khoản vay thành khoản nợ quá hạn từ ngày 28/03/2023.

Tạm tính đến ngày 18/03/2024 anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D đã trả cho VIB số tiền tổng cộng là 70.747.963 nợ lãi quá hạn: 11.309 đồng và còn nợ số tiền là 1.465.733.761 đồng, bao gồm:

  • - Nợ gốc: 1.220.000.000 đồng
  • - Nợ lãi: 68.261.844 đồng
  • - Nợ lãi quá hạn: 177.471.917 đồng

Sau khi phát sinh nợ quá hạn, V2 đã đôn đốc, tạo điều kiện cho anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Việc làm trên của Anh Trần Văn T1 và bà Hoàng Ái D đã gây ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của V2.

Trên cơ sở những nội dung đã trình bày trên, Ngân hàng TMCP Q (V2) kính đề nghị Quý Tòa tiến hành thụ lý vụ án và xem xét giải quyết những yêu cầu sau:

  • - Buộc anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q ngay sau khi Bản án/Quyết định có hiệu lực thi hành, số tiền tạm tính đến 15/07/2023 là: 1.300.795.018 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, ba trăm triệu, bảy trăm chín mươi lăm ngàn, không trăm mười tám đồng), bao gồm: Nợ gốc: 1.220.000.000 đồng, Nợ lãi: 68.261.844 đồng, N lãi quá hạn: 177.471.917 đồng. Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng và theo quy định của pháp luật kể từ ngày 16/07/2023 cho đến ngày anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D thanh toán toàn bộ khoản vay.
  • - Trong trường hợp anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V2, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q có quyền được tự phát mại các tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 135, tờ bản đồ số: 04, địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An và quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 105, tờ bản đô số: 53, địa chỉ: Xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sở hữu, sử dụng của anh T1, chị D.

Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị tòa án tuyên anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V2.

Đối với bị đơn anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D vắng mặt, Tòa án trực tiếp xác minh và yêu cầu ông Hoàng Văn Đ, (Là bố ruột của chị D), bà Trần Thị B (Là mẹ ruột của anh T1), cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh T1, chị D biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Ông Đ và bà B trình bày từ lúc anh T1, chị D đi nước ngoài ông bà vẫn thường xuyên liên hệ qua mạng xã hội, tuy nhiên không nắm được địa chỉ chính xác của anh T1, chị D tại nước ngoài. Ông Đ, bà B từ chối thông báo cho anh T1, chị D về việc Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm giữa VIB và anh T1, chị D.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký từ khi thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 30, Điều 34, Điều 37, Điều 41, Điều 227, 228 BLTTDS; Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, 8 ,12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019; Điều 299, 303, 307, 317, 318, 319, 320, 321, 323, khoản 1 Điều 326, Điều 327 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện của Ngân hàng V2 về việc buộc anh Trần Văn T1 và bà Hoàng Ái D phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: 1.562.283.270 đồng đồng, bao gồm: Nợ gốc: 1.220.000.000 đồng, Nợ lãi: 68.261.844 đồng, N lãi quá hạn: 274.021.426 đồng.

Về án phí: Anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận.

Buộc anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D chịu chi phí thẩm định tại chỗ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện anh Trần Văn T1, chị Hoàng Ái D về việc kiện đòi nợ liên quan đến hợp đồng tín dụng. Đây là vụ án có tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Trần Văn T1, Chị Hoàng Ái D, có địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An và hiện đang sinh sống, làm việc ở nước ngoài trước khi Tòa án huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An thụ lý nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn anh Trần Văn T1, chị Hoàng Ái D trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Căn cứ thông tin do Cục Q1, Bộ C2 tại Công căn số 33137/QLXNC-P3 ngày 12 tháng 12 năm 2023, thì anh Trần Văn T1 xuất cảnh gần nhất ngày 18/3/2023, qua cửa khẩu T2 bằng hộ chiếu số C9867087, hiện chưa có thông tin nhập cảnh và chị Hoàng Ái D xuất cảnh gần nhất ngày 24/5/2023 qua cửa khẩu T2 bằng hộ chiếu số P01994911, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D vắng mặt, Tòa án trực tiếp xác minh và yêu cầu ông Hoàng Văn Đ (Là bố ruột của chị D), bà Trần Thị B (Là mẹ ruột của anh T1), cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh T1, chị D biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Ông Đ và bà B trình bày từ lúc anh T1, chị D đi nước ngoài ông bà vẫn thường xuyên liên hệ qua mạng xã hội, tuy nhiên không nắm được địa chỉ chính xác của anh T1, chị D tại nước ngoài. Ông Đ, bà B từ chối thông báo cho anh T1, chị D về việc Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm giữa VIB và anh T1, chị D. Đến nay, Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh T1, chị D liên quan đến yêu cầu khởi kiện. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh T1, chị D trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q về việc yêu cầu anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Ngày 28 tháng 6 năm 2022, Ngân hàng TMCP Q - V2 (sau đây gọi tắt là V2) và anh Trần Văn T1, chị Hoàng Ái D ký thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng, Hợp đồng tín dụng số 9064828.22 với nội dung: VIB cho ông Trần Văn T1 và bà Hoàng Ái D vay số tiền 1.220.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Kinh doanh chăn ga gối đệm;

Thời hạn vay: 12 tháng từ ngày: 30/06/2022 đến 29/06/2023. Lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9.3 %/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 06 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời gian ưu đãi nói trên, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4.2%/ năm. Hoàn trả khoản tín dụng gốc: Cuối kỳ ngày, ngày trả lãi: Vào ngày 28 hàng tháng theo dư nợ thực tế, ngày trả nợ lãi đầu tiên 28/07/2022. Trả phí: Theo quy định của V2 từng thời kỳ.

Ngày 29/06/2022, V2 đã giải ngân cho anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 9064828(1).22 với số tiền 1.220.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp đồng tín dụng.

Hai bên giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ các quy định của pháp luật cả về hình thức và nội dung của hợp đồng, do đó Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Q - V2 (sau đây gọi tắt là V2) và anh Trần Văn T1, chị Hoàng Ái D là có thật và hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.

Quá trình thực hiện hợp đồng anh Trần Văn T1, chị Hoàng Ái D không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ vay theo hợp đồng mà hai bên đã cam kết, thoả thuận, vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ thanh toán tiền lãi suất. Do đó, việc ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc và lãi suất, xử lý tài sản thế chấp là có căn cứ xem xét. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về nợ gốc: Phía bị đơn đã nhận đủ số tiền theo hợp đồng đã giao kết và chưa trả được số tiền gốc nào, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc là 1.220.000.000 đồng cho nguyên đơn.

Về lãi suất: Ngân hàng TMCP Q và anh Trần Văn T1, chị Hoàng Ái D đã cùng nhau cam kết thoả thuận ký hợp đồng tín dụng, thoả thuận về lãi suất là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với khoản 2, 3 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1, Điều 11 quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (được ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001, được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 127/2005/ QĐ-NHNN ngày 03/2/2005 của Thống đốc Ngân hàng N1) nên cần chấp nhận buộc anh Trần Văn T1, chị Hoàng Ái D phải thanh toán tiền lãi suất tính đến ngày 09/8/2024: Số tiền lãi trong hạn chưa trả 68.261.844 đồng; số tiền lãi quá hạn chưa trả 274.021.426 đồng.

Từ những phân tích nêu trên, đủ căn cứ buộc anh Trần Văn T1, chị Hoàng Ái D phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền nợ 1.562.283.270 đồng. Trong đó:

Số tiền nợ gốc: 1.220.000.000 đồng.

Số tiền lãi trong hạn: 68.261.844 đồng.

Số tiền lãi quá hạn: 274.021.426 đồng.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Để đảm bảo cho khoản vay anh Trần Văn T1, chị Hoàng Ái D đã thế chấp:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 135, tờ bản đồ số: 04, địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Theo chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 710419, số vào sổ cấp GCN:CS 00365 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 29/11/2021 cho ông Nguyễn Văn V1, ngày 05/05/2022 chuyển nhượng cho anh Trần Văn T1, chị Hoàng Ái D theo hồ sơ số: 1856 ngày 26/04/2022.

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 105, tờ bản đồ số: 53, địa chỉ: Xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Theo chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DG 217277, số vào sổ cấp GCN: CS 00315 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 23/05/2022 cho anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D.

Các tài sản trên đã được thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q theo các hợp đồng thế chấp:

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 8235426.22 ngày 28/06/2022, số công chứng: 6441/2022, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, huyện D, tỉnh Nghệ An công chứng ngày 28/06/2022.

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 5017218.22 ngày 28/06/2022, số công chứng: 6440/2022, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, huyện D, tỉnh Nghệ An công chứng ngày 28/6/2022.

Xét thấy các bên đã thoả thuận, cam kết hoàn toàn tự nguyện đúng pháp luật. Hợp đồng thế chấp đã được Văn phòng C1, huyện D, tỉnh Nghệ An công chứng nội dung giao dịch và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định tại cơ quan có thẩm quyền là Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T, tỉnh Nghệ An. Như vậy, hợp đồng thế chấp tài sản giữa các bên đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với khối tài sản thế chấp. Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật dân sự nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ nếu bị đơn không trả được nợ là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đã nộp số tiền tạm ứng chi phí tố tụng là 12.000.000

đồng tại Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên cần buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền này.

[4] Về án phí: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện được chấp nhận nên không phải chịu án phí kinh doanh sơ thẩm. Anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 469, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 299, 303, 307, 317, 318, 319, 320, 321, 323, khoản 1 Điều 326, Điều 327, Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 7, 8 ,12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

- Buộc anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm là : 1.562.283.270 (Một tỉ năm trăm sáu hai triệu hai trăm tám ba ngàn hai trăm bảy mươi) đồng. Trong đó:

Nợ gốc: 1.220.000.000 (Một tỉ hai trăm hai mươi triệu) đồng.

Lãi suất trong hạn: 68.261.844 (Sáu mươi tám triệu hai trăm sáu mốt ngàn tám trăm bốn bốn) đồng;

Lãi suất quá hạn 274.021.426 (Hai trăm bảy tư triệu không trăm hai mốt ngàn bốn trăm hai sáu) đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho ngân hàng gồm các thửa đất:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 135, tờ bản đồ số 04, địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Theo chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 710419, số vào sổ cấp GCN:CS 00365 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 29/11/2021 cho ông Nguyễn Văn V1, ngày 05/05/2022, chuyển nhượng cho anh Trần Văn T1, chị Hoàng Ái D theo hồ sơ số 1856 ngày 26/04/2022.

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 105, tờ bản đồ số 53, địa chỉ: Xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Theo chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DG 217277, số vào sổ cấp GCN: CS 00315 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 23/05/2022, cho anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D.

Nếu số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D phải có trách nhiệm tiếp tục trả nợ gốc và lãi cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

Nếu anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D thực hiện việc trả nợ đúng, đầy đủ theo bản án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q phải thực hiện thủ tục xóa thế chấp, giải chấp tài sản và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 710419 và số DG 217277 cho anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D.

2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về chi phí tố tụng: anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng tiền chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp.

4. Về án phí: Anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D phải chịu 58.868.498 (Năm mươi tám triệu tám trăm sáu tám ngàn bốn trăm chín tám) đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q 25.511.000 đồng (Hai mươi lăm triệu, năm trăm mười một nghìn đồng) số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002302 ngày 01 tháng 11 năm 2023.

5. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Anh Trần Văn T1 và chị Hoàng Ái D có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Y;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/KDTM-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về hợp đồng tín dụng, thế chấp

  • Số bản án: 06/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng, thế chấp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng, thế chấp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger