TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2024/KDTM-ST
Ngày: 16/5/2024
V/v "Tranh chấp HĐ xây dựng".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Kim Đào
Bà Võ Thị Kim Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Tòa án nhân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 07/2024/TLST-KDTM ngày 04 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-KDTM ngày 15 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-KDTM ngày 26/4/2024, giữa:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần S; trụ sở đóng tại: Số B Quốc lộ A, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh T - Chủ tịch Hội đồng quản trị. Có mặt.
Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn T1; trụ sở đóng tại: Số nhà A, ngõ B, đường N, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện theo pháp luật: Ông Kiều Quang K - Giám đốc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, đại diện theo pháp luật của nguyên đơn - ông Lê Thanh T trình bày:
Công ty cổ phần S (Công ty S) ký hợp đồng số 02/2019-BH/HĐKT ngày 25/3/2019 với Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 (Công ty T1) về việc Công ty S nhận cung cấp và lắp đặt cho Công ty T1, gia công lắp dựng cửa đi, cửa sổ và vách kính phục vụ thi công xây dựng công trình Kho bạc Nhà nước tỉnh Q theo hồ sơ bản vẽ thiết kế thi công được chủ đầu tư phê duyệt.
Tổng giá trị hợp đồng và phát sinh được hai bên xác nhận đối chiếu công nợ là 924.949.978 đồng, Công ty T1 đã thanh toán cho Công ty S 883.635.178 đồng, số tiền còn nợ lại là 41.314.800 đồng (theo Biên bản đối chiếu công nợ hai bên xác nhận ngày 31/10/2019). Sau khi thi công hoàn thành, hai bên đã ký biên bản nghiệm thu thanh lý hợp đồng và đã xuất hóa đơn cho Công ty T1. Số tiền nợ còn lại, Công ty S đã nhiều lần đề nghị Công ty T1 thanh toán hết số tiền 41.314.800 đồng, nhưng Công ty T1 cố tình dây dưa, không chịu thanh toán.
Do Công ty T1 đã vi phạm thời hạn thanh toán theo quy định tại Điều 4 của hợp đồng số 02/2019-BH/HĐKT ngày 25/3/2019. Vì vậy, Công ty cổ phần S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 thanh toán số tiền 41.314.800 đồng (Bốn mươi mốt triệu ba trăm mười bốn nghìn tám trăm đồng) cho Công ty cổ phần S.
Tại văn bản số 01/2024/TL-VT đề ngày 11/4/2024, bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 trình bày:
Do công ty đang gặp rất nhiều khó khăn về tài chính, về công nợ thì công ty sẽ chủ động liên hệ với Công ty cổ phần S để xin chậm trả đến ngày 30/7/2024.
Ý kiến của kiểm sát viên: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định về quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S, buộc bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn nợ theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/10/2019 là 41.314.800 đồng.
Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 phải chịu án phí 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về Tố tụng:
- Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Công ty cổ phần S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 phải trả số tiền còn nợ 41.314.800 đồng theo hợp đồng số 02/2019-BH/HĐKT ngày 25/3/2019 về việc Công ty S nhận gia công lắp dựng cửa đi, cửa sổ và vách kính phục vụ thi công xây dựng công trình Kho bạc Nhà nước tỉnh Q cho Công ty T1. Đây là hợp đồng giữa hai công ty có tư cách pháp nhân, có mục đích lợi nhuận.
Căn cứ khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”. Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng nên nguyên đơn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị giải quyết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến trình bày của bị đơn cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngày 25/3/2019, Công ty cổ phần S (Công ty S) và Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 (Công ty T1) đã ký hợp đồng số 02/2019-BH/HĐKT về việc Công ty S nhận cung cấp và lắp đặt cho Công ty T1, gia công lắp dựng cửa đi, cửa sổ và vách kính phục vụ thi công xây dựng công trình Kho bạc Nhà nước tỉnh Q. Thời hạn thực hiện hợp đồng là 45 ngày kể từ ngày nhận được tạm ứng ban đầu. Sau khi thi công hoàn thành, hai bên đã ký biên bản nghiệm thu thanh lý hợp đồng và đã xuất hóa đơn cho Công ty T1. Tổng giá trị hợp đồng và phát sinh hợp đồng được hai bên xác nhận theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/10/2019 là 924.949.978 đồng. Theo đó, Công ty T1 đã thanh toán cho Công ty S 883.635.178 đồng từ ngày 01/4/2019 đến ngày 31/10/2019. Số tiền còn nợ theo hợp đồng là 41.314.800 đồng từ ngày 31/10/2019 đã được hai bên xác nhận.
Về thời hạn thanh toán, Công ty S trình bày: Theo quy định tại Điều 4 của hợp đồng số 02/2019-BH/HĐKT ngày 25/3/2019, sau khi nghiệm thu đạt chất lượng, Công ty S hoàn thành hồ sơ thanh toán kèm chứng thư bảo lãnh (Công ty T1 không nộp tiền vào Ngân hàng nên không cấp chứng thư bảo lãnh). Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày nghiệm thu hoàn thành 07/9/2019, công ty T1 thanh toán giá trị còn lại của hợp đồng tương ứng số tiền 341.830.631 đồng trong thời hạn 20 ngày. Và thực tế Công ty T1 đã thanh toán cho Công ty S đến ngày 31/10/2019 chỉ còn nợ 41.314.800 đồng. Từ khi đối chiếu công nợ, Công ty S cũng đã nhiều lần yêu cầu Công ty T1 thanh toán số tiền còn nợ 41.314.800 đồng, Công ty T1 hứa trả nhưng không trả. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty T1 thừa nhận nợ và xin gia hạn thanh toán đến ngày 30/7/2024 nhưng nguyên đơn không chấp nhận.
Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty S, buộc bị đơn Công ty T1 phải có trách nhiệm trả cho Công ty S 41.314.800 đồng (Bốn mươi mốt triệu ba trăm mười bốn nghìn tám trăm đồng) như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[3] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Công ty S được chấp nhận nên bị đơn Công ty T1 phải chịu án phí sơ thẩm trên số tiền có nghĩa vụ phải trả cho Công ty S là 3.000.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 147, 144 Luật xây dựng; Điều 351 của Bộ luật dân sự 2015, xử:
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 phải trả cho Công ty cổ phần S số tiền 41.314.800 đồng (Bốn mươi mốt triệu ba trăm mười bốn nghìn tám trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Công ty cổ phần S không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Công ty cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000216 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đoàn Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 06/2024/KDTM-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hđ xây dựng
- Số bản án: 06/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ xây dựng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty CP S-Công ty TNHH T1
