TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN – TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 06/2024/KDTM - ST Ngày: 13 - 12 - 2024. V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
Thành phần Hội đồng xét xử sư thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thơm.
Ông Phạm Văn Hay.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, tham gia phiên tòa: Ông Hà Quang Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 13/12/2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-KDTM ngày 01 tháng 7 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST- KDTM ngày 01/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2024/QĐXXST- KDTM ngày 25/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2024/QĐXXST- KDTM ngày 12/11/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2024/QĐST-KDTM ngày 28/11/2024. .
Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B - Chủ tịch Hội đồng Quản trị.
Địa chỉ trụ sở: Số A T, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: 1. Ông Vũ Minh T - Chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh S1.
2. Bà Trịnh Thị M - Chức vụ: Trưởng phòng Doanh nghiệp Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh S1.
Địa chỉ: Số B đường Đ, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH N2.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bá D – Chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH N2.
Địa chỉ: Công ty TNHH N2 - thôn E, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Bá D - Sinh năm 1978
- Bà Nguyễn Thị P - Sinh năm 1979.
- Ông Nguyễn Bá M1 - Sinh năm 1998
- Bà Lê Thị N - Sinh năm 1998
Cùng địa chỉ: Công ty TNHH N2 - thôn E, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Trần Văn S - Sinh năm 1982
- Bà Nguyễn Thị D1 - Sinh năm 1985
Cùng địa chỉ: Số nhà E N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
(Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa.
- Nguyên đơn, trình bày: Công ty TNHH N2 ký với Ngân hàng C - Chi nhánh S1, Hợp đồng cho vay hạn mức số: 22681101/2022-HĐCVHM/NHCT422-DOTHI ngày 15/11/2022, số lần giải ngân được phản ánh tại các giấy nhận nợ, từ giấy nhận nợ số 13 đến giấy nhận nợ số 26 đều của năm 2023, tổng cộng số tiền giải ngân cho Công ty TNHH N2 là: 15.000.000.000đồng (Mười lăm tỷ đồng), thời hạn cho vay là 12 tháng, cam kết thỏa thuận lãi xuất và các thỏa thuận khác được phản ánh tại hợp đồng tín dụng. Mục đích vay vốn bổ sung vốn lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh gỗ ghép thanh.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH N2 có thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng trả không đúng theo những gì đã cam kết tại hợp đồng tín dụng, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ ngày 23/11/2023. Quá trình vi phạm hợp đồng mặc dù đã được Ngân hàng nhắc nợ nhiều lần nhưng đến nay vẫn không tực hiện. Do đó, Ngân hàng C - Chi nhánh S1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty TNHH N2 phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh S1, theo đơn khởi kiện đề ngày 04/6/2024 thì tạm tính số nợ đến ngày 23/4/2024, tổng cộng là: 15.869.904.920 đồng (Mười lăm tỷ, tám trăm sáu mươi chín triệu, chín trăm linh bốn nghìn, chín trăm hai mươi đồng). Trong đó nợ gốc: 15,000,000,000 đồng; lãi quá hạn: 591,358,460 đồng; lãi phạt chậm trả lãi: 278,546,460 đồng.
Trường hợp, Công ty TNHH N2 không trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp do Công ty TNHH N2 đã tham gia ký kết với Ngân hành, bao gồm:
Tài sản 1: Thửa đất số 72, tờ bản đồ số 19; diện tích 100 m² đất ở đô thị; thời hạn sử dụng lâu dài và tài sản gắn liền với đất: Nhà ở cấp 3, số tầng 3, kết cấu bê tông cốt thép, diện tích xây dựng: 92,5 m2, diện tích sàn: 249,5 m2, năm hoàn thành xây dựng: 2013. địa chỉ: Số nhà E N, phường T, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 642046, do UBND thành phố T cấp ngày 17/01/2020, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 02463/512/QĐ-UBND, chủ sở hữu: Ông Trần Văn S và Bà Nguyễn Thị D1. (Theo Hợp đồng thế chấp số: 4443364/2021/HĐBĐ/NHCT422-DOTHI ngày 15/06/2021.
Tài sản 2: Thửa đất số 145, tờ bản đồ số 38, diện tích 109,6 m², đất ở nông thôn; thời hạn sử dụng lâu dài, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CP 692477, do UBND huyện N cấp ngày 21/11/2018, cho ông Nguyễn Bá D và Bà Nguyễn Thị P. Địa chỉ thửa đất: Khu phố M, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Theo hợp đồng thế chấp số: 4443362/2021/HĐBĐ/NHCT422-DOTHI ngày 15/06/2021).
Tài sản 3: Lô BT19, MBQH 2122/UBND-QLĐT và tài sản gắn liền với đất là nhà ở cấp III; 3 tầng; kết cấu BTCT; diện tích xây dựng: 229,3m²; diện tích sàn: 688m², năm hoàn thành xây dựng 2019, tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy CNQSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 391971, do UBND thành phố T cấp ngày 21/12/2018, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 04617/11357/QĐ-UBND, chủ sở hữu: Ông Nguyễn Bá D và Bà Nguyễn Thị P. (Theo hợp đồng thế chấp số: 4443361/2021/HĐBĐ/NHCT422-DOTHI ngày 18/06/2021).
Tài sản 4: Thửa đất số 4-3, bản đồ số 16; diện tích 272,5m² (Trong đó đất ở 200 m²; đất trồng cây hàng năm 72,5m²), theo Giấy CNQSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 951508, do UBND huyện N cấp ngày 12/08/2020, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH00941, chủ sở hữu: Ông Nguyễn Bá M1 và Bà Lê Thị N. Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (Theo hợp đồng thế chấp số: 4443363/2021/HĐBĐ/NHCT422-DOTHI ngày 15/06/2021).
Tài sản 5: Xe ô tô con nhãn hiệu FORD, số loại: EVEREST sản xuất năm 2018, biển kiểm soát 36A-365.44, Số máy: YNWQAB01267, Số khung: XMAWAJB01267, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 061759 do Phòng C1 Công an tỉnh T cấp ngày 20/11/2018, chủ sở hữu: Công ty TNHH N2. (Theo hợp đồng thế chấp số: 4443372/2021/HĐBĐ/NHCT422-NGOISAO ngày 02/07/2021).
Tài sản 6: Xe ô tô con nhãn hiệu HONDA – số loại: CITY sản xuất năm 2018, biển kiểm soát 36A-371.76, Số máy: L15Z12334203, Số khung: 6667JY829295, theo hồ sơ tài sản thế chấp: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 065493 do Phòng C1 Công an tỉnh T cấp ngày 10/12/2018, chủ sở hữu: Công ty TNHH N2. (Hợp đồng thế chấp số: 4443371/2021/HĐBĐ/NHCT422-NGOISAO ngày 02/07/2021).
Tài sản 7: Xe ô tô con nhãn hiệu MITSUBISHI – số loại: ATTRAGE sản xuất năm 2021, biển kiểm soát 36A-653.01, Số máy: 3A92UKK4444, Số khung: MMBSTA13ANH004011, theo hồ sơ tài sản thế chấp: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 36011459 do Phòng C1 Công an tỉnh T cấp ngày 12/07/2021, chủ sở hữu: Công ty TNHH N2. (Hợp đồng thế chấp số: 4443376/2021/HĐBĐ/NHCT422-NGOISAO ngày 27/07/2021).
Tài sản 8: Xe ô tô con nhãn hiệu TOYOTA – số loại: VIOS sản xuất năm 2021, biển kiểm soát 36A-659.18, Số máy: 2NRX718045, Số khung: RL4B23F38M5115459, theohồ sơ tài sản thế chấp: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 36012148 do Phòng C1 Công an tỉnh T cấp ngày 19/07/2021, chủ sở hữu: Công ty TNHH N2. (Hợp đồng thế chấp số: 4443377/2021/HĐBĐ/NHCT422-NGOISAO ngày 27/07/2021).
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ về các tài sản là đất và các tài sản khác gắn liền với đất do Công ty TNHH N2 dùng làm tài sản bảo đảm cho khoản vay tại Ngân hàng. Kết quả thẩm định: Các tài sản vẫn giữ nguyên hiện trạng và tồn tại trên thực tế như tại các hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm đã phản ánh. Còn đối với 04 chiếc xe ô tô là tài sản bảo đảm cho khoản vay là do các bên đương sự tự cam kết thỏa thuận với nhau và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cam kết.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có đơn xin rút 01 tài sản bảo đảm không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tài sản theo hợp đồng thế chấp số: 4443362/2021/HĐBĐ/NHCT422-DOTHI ngày 15/06/2021, là thửa đất số 145, tờ bản đồ số 38, diện tích 109,6 m², đất ở nông thôn; thời hạn sử dụng lâu dài, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CP 692477, do UBND huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 21/11/2018, cho ông Nguyễn Bá D và Bà Nguyễn Thị P. Địa chỉ thửa đất: Khu phố M, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, số tài sản còn lại yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh S1 cung cấp tài liệu về số nợ tính đến hết ngày 12/12/2024, buộc Công ty TNHH N2 phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng. Trong đó nợ gốc quá hạn là: 14.561.000.000đồng; lãi trong hạn là: 1.513,249,918 đồng; lãi quá hạn là: 689.692.315đồng; lãi phạt chậm trả lãi: 67.340.269đồng. Tổng cộng là: 16.831.282.502đồng (Mười sáu tỷ, tám trăm ba mươi mốt triệu, hai trăm tám mươi hai nghìn, năm trăm linh hai đồng).
Trường hợp, số tiền thu được từ việc xử lý phát mại tài sản bảo đảm nêu trên còn lại của Công ty TNHH N2 không đủ để trả hết khoản nợ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác minh nguồn thu nhập và tài sản hợp pháp khác của Công ty TNHH N2 cho đến khi thu hồi xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
- Bị đơn Công ty TNHH N2, người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Bá D đồng thời cũng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, trình bày: Tôi là giám đốc Công ty TNHH N2, vào năm 2018, tôi có vay của Ngân hàng C số tiền là: 15.000.000.000đồng (Mười lăm tỷ đồng) và thế chấp bằng 8 tài sản bảo đảm. Trong đó 04 tài sản là nhà, đất và 04 tài sản là xe ô tô như Ngân hàng đã kê khai tại đơn khởi kiện là đúng. Quá trình vay, tôi thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ trong bốn năm đầu, nhưng vào cuối năm 2023 do dịch bệnh covid bùng phát nên việc kinh doanh gặp nhiều khó khăn, việc trả nợ cho Ngân hàng có chậm lại. Nay, tôi xin Ngân hàng tạo điều kiện cho Công ty TNHH N2, có thêm thời gian để khắc phục hoạt động kinh doanh tìm kiếm phương án trả nợ cho Ngân hàng.
Quá trình giải quyết vụ án, tôi, vợ tôi là Nguyễn Thị P, con trai tôi là Nguyễn Bá M1 và con dâu tôi là Nguyễn Thị N1 (là các đương sự trong vụ án) đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, đều biết được sự việc khởi kiện của Ngân hàng C nhưng vì lý do trở ngại khách quan bận công việc nên chúng tôi không đến tham gia tố tụng tại Tòa án được. Chúng tôi được biết Tòa án tiếp tục xét xử vào hồi 8 giờ ngày 13/12/2024 chúng tôi sẻ thu xếp công việc cố gắng đến tham dự phiên tòa nhưng vì một lý do trở ngại khách quan nào đó mà chúng tôi không thể có mặt tại phiên tòa được thì đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chúng tôi. Có gì sai chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật. (Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Bá D, cung cấp các tài liệu, chứng cứ bao gồm: Quyết định bổ nhiệm giám đốc Công ty TNHH N2; giáy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; Điều lệ công ty; căn cước công dân và giấy đăng ký kết hôn của ông D và bà Phước, anh M1, và chị N1; ông S và chị D1 và đã ký xác nhận vào các biên bản thẩm định tài sản, phiếu vận đơn và phiếu báo phát của bưu điện).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị P: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án phản ánh bà Phước đã ký nhận cụ thể vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án tại các bút lục số 224; 227; 231; 235; 239 và và đã ký xác nhận vào các biên bản thẩm định tài sản, phiếu vận dơn và phiếu báo phát của bưu điện). Ngoài ra, bà Phước còn được ông D là chồng bà Phước và chị N1 là con dâu của bà Phước cùng ở tại Công ty TNHH N2, có địa chỉ tại thôn E, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, giao lại các văn bản tố tụng của Tòa án.
- Ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị D1: Đều đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án được phản ánh tại các phiếu vận đơn và phiếu báo phát của bưu điện và tại biên bản thẩm định có liên quan đến tài sản của ông S và bà D1. (BL: 239 và tại phiên tòa ngày 28/11/2024, ông S có mặt tại phiên tòa).
- Chị Nguyễn Thị N1 và Anh Nguyễn Bá M1: Chị N1, trình bày: Tôi đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và đã giao lại cho các thành viên của gia đình tôi cùng làm việc tại Công ty TNHH N2, tôi đã biết sự việc nhưng do bận công việc nên không đến tham gia tố tụng tại Tòa án được. Đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, bên nguyên đơn xét thấy bên bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan liên tục vắng mặt trong qúa trình Tòa án giải quyết vụ án, làm cho vụ việc kéo dài gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Do đó, nguyên đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nữa mà sớm đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Đối với việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án chưa chặt chẽ theo quy định tại Điều 173 đến Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng các quy định tại Điều 70; 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do việc giao nhận các văn bản tố tụng chưa rõ ràng, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa có ý kiến trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án nên đại diện viện kiểm sát chưa có quan điểm phát biểu.
- Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy, hợp đồng tín dụng: 22681101/2022-HĐCVHM/NHCT422-DOTHI ngày 15/11/2022, ký giữa Ngân hàng TMCP C và Công ty TNHH N2 được các bên ký kết có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật. Trong hợp đồng tín dụng các bên tự nguyện giao kết thực hiện hợp đồng và cam kết chịu trách niệm trước pháp luật về nội dung hợp đồng. Tại thời điểm ký hợp đồng các bên đều có đầy đủ năng lực về hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Do đó xác định đây là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành đối với các bên và phù hợp với các quy định của pháp luật đối với các tổ chức tín dụng. Do đó Ngân hàng TMCP C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH N2 phải thanh toán trả nợ cho Ngân hàng TMCP C số tiền nợ là có căn cứ chấp nhận. Đối với việc xử lý tài sản bảo đảm của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án chưa đảm bảo nên đại diện Viện kiểm sát chưa có căn cứ để phát biểu quan điểm.
Do đó, căn cứ Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Thống đốc N3 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng; Điều 91; 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 463; 466; 468; 470 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 35 BLTTDS.
Đề nghị: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C (V), buộc Công ty TNHH N2, có trách nhiệm trả nợ số tiền còn nợ của Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng 22681101 ngày 15/11/2022 và các khoản lãi xuất theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 BLTTDS2015 và Nghị quyết số 326/2014 của UBTVQH14, buộc các bên đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng của đương sự tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, xác định đây là quan hệ pháp luật về việc «Tranh chấp hợp đồng tín dụng» theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án do các đương sự lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa để giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại các Điều 35; 39; 40 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án là đúng theo quy định tại các Điều 170 ; 171 ; 172; 173; 174; 175; 176; 177; 178; 181 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện: Theo Hợp đồng cho vay hạn mức số: 22681101/2022-HĐCVHM/NHCT422-DOTHI ngày15/11/2022, giữa Ngân hàng C - Chi nhánh S1 và Công ty TNHH N2. Quá trình vay vốn Công ty TNHH N2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Ngân hàng khởi kiện: Buộc Công ty TNHH N2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng C - Chi nhánh S1 tính đến hết ngày 12/12/2024. Trong đó nợ gốc quá hạn là: 14.561.000.000đồng; lãi trong hạn là: 1.513.249.918đồng; lãi quá hạn là: 689. 629.315đồng; lãi phạt chậm trả lãi: 67.340.269đồng. Tổng cộng là: 16.831.282,502đồng (Mười sáu tỷ, tám trăm ba mươi mốt triệu, hai trăm tám mươi hai nghìn, năm trăm linh hai đồng).
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xin rút 01 tài sản bảo đảm không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với hợp đồng thế chấp số: 4443362/2021/HĐBĐ/NHCT422-DOTHI ngày 15/06/2021, là thửa đất số 145, tờ bản đồ số 38, diện tích 109,6 m², đất ở nông thôn; thời hạn sử dụng lâu dài, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CP 692477, do UBND huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 21/11/2018, thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Bá D và bà Nguyễn Thị P. Địa chỉ thửa đất: Khu phố M, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, là hoàn toàn tự nguyện không trái đạo đức xã hội, không vi phạm pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đình chỉ.
Số tài sản còn lại như đã nêu tại phần nội dung vụ án được xem xét giải quyết để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Trường hợp, Công ty TNHH N2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì sau khi bản án có hiệu lực pháp luật Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự nơi có thẩm quyền xử lý phát mại tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Sau khi đã xử lý phát mại tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ để thu hồi hết khoản nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác minh nguồn thu nhập và các tài sản hợp pháp khác của Công ty TNHH N2 cho đến khi thu hồi xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên phần yêu cầu khởi kiện còn lại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Hội đồng xét xử, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đúng quy định của pháp luật nên được xem xét chấp nhận.
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Hội đồng xét xử đề nghị Kiểm sát viên gửi Văn bản phát biểu ý kiển theo quy định tại Điều 262 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C - Chi nhánh S1, được chấp nhận nên buộc bên bị đơn Công ty TNHH N2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 30; 35; 39; 40 ; 147; 227; 244; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 299; 317; 318; 319; 320; 463; 466; 468; 470 của Bộ luật dân sự; Điều 91; 95 Luật tổ chức tín dụng; Điều 167 Luật đất đai năm 2013; Điều 27; 28 Luật hôn nhân gia đình; Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Thống đốc N3 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng; Điều 19; 24; 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về việc nguyên đơn đơn Ngân hàng C - Chi nhánh S1, có đơn xin rút một phần tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: 4443362/2021/HĐBĐ/NHCT422-DOTHI ngày 15/06/2021, là thửa đất số 145, tờ bản đồ số 38, diện tích 109,6 m², đất ở nông thôn; thời hạn sử dụng lâu dài, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CP 692477, do UBND huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 21/11/2018, thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Bá D và bà Nguyễn Thị P. Địa chỉ thửa đất: Khu phố M, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện còn lại của Ngân hàng C - Chi nhánh S1. Buộc: Công ty TNHH N2 phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng C - Chi nhánh S1, tính đến hết ngày ngày 12/12/2024. Trong đó nợ gốc quá hạn là: 14.561.000.000đồng; lãi trong hạn là: 1.513.249.918đồng; lãi quá hạn là: 689. 629.315đồng; lãi phạt chậm trả lãi: 67.340.269đồng. Tổng cộng là: 16,831. 282,502đồng (Mười sáu tỷ, tám trăm ba mươi mốt triệu, hai trăm tám mươi hai nghìn, năm trăm linh hai đồng).
Kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 13/12/2024, Công ty TNHH N2, người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Bá D, còn phải chịu lãi xuất phát sinh trên toàn bộ dư nợ gốc còn lại cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp, Công ty TNHH N2, người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Bá D, không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ còn lại thì ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật Ngân hàng C - Chi nhánh S1, yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự nơi có thẩm quyền, kê biên, xử lý, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật. Tài sản bảo bảm bao gồm:
Tài sản 1: Theo hợp đồng thế chấp số: 4443364/2021/HĐBĐ/NHCT422-DOTHI ngày 15/06/2021, là thửa đất số 72, tờ bản đồ số 19, diện tích 100 m² loại đất ở, thời hạn sử dụng lâu dài và tài sản khác gắn liền với đất là căn nhà ở cấp 3, số tầng 3, kết cấu bê tông cốt thép, diện tích xây dựng: 92,5 m2, diện tích sàn: 249,5 m2, năm hoàn thành xây dựng: 2013, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 642046, do UBND thành phố T cấp ngày 17/01/2020, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 02463/512/QĐ-UBND. Địa chỉ: Số nhà E phố N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Chủ sở hữu mang tên Ông Trần Văn S và Bà Nguyễn Thị D1.
Tài sản 2: Theo hợp đồng thế chấp số: 4443361/2021/HĐBĐ/NHCT422-DOTHI ngày 18/06/2021, là Lô đất số BT19; MBQH 2122, diện tích 332,5 m² loại đất ở tại đô thị; thời hạn sử dụng lâu dài và tài sản khác gắn liền với đất là căn nhà ở cấp 3; kết cấu 3 tầng bê tông cốt thép; diện tích xây dựng 229,3 m²; diện tích sàn: 688 m² năm hoàn thành xây dựng: 2019, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CP 391971, do UBND thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, cấp ngày 21/12/2018, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 04617/11357/QĐ-UBND. Địa chỉ: Lô đất số BT19, M, Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Chủ sở hữu mang tên ông Nguyễn Bá D và Bà Nguyễn Thị P.
Tài sản 3: Theo hợp đồng thế chấp số: 4443363/2021/HĐBĐ/NHCT422-DOTHI ngày 15/06/2021 là thửa đất số 4-3, tờ bản đồ số 16; tổng diện tích 272,5m². Trong đó đất ở là 200 m² và đất bằng trồng cây hàng năm khác 72,5 m²; thời hạn sử dụng: đất ở: Lâu dài, đất bằng trồng cây hàng năm khác sử dụng đến ngày 01/07/2064, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CX 951508, do UBND huyện N, tỉnh Thanh Hóa, cấp ngày 12/08/2020, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH00941. Chủ sở hữu: Ông Nguyễn Bá M1 và Bà Lê Thị N.
Tài sản 4: Theo hợp đồng thế chấp số: 4443372/2021/HĐBĐ/NHCT422-NGOISAO ngày 02/07/2021, là Xe ô tô con nhãn hiệu FORD – số loại: EVEREST sản xuất năm 2018, biển kiểm soát 36A-365.44, Số máy: YNWQAB01267, Số khung: XMAWAJB01267, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 061759 do Phòng C1 Công an tỉnh T cấp ngày 20/11/2018. Chủ sở hữu: Công ty TNHH N2.
Tài sản 5: Theo hợp đồng thế chấp số: 4443371/2021/HĐBĐ/NHCT422-NGOISAO ngày 02/07/2021, là Xe ô tô con nhãn hiệu HONDA – số loại: CITY sản xuất năm 2018, biển kiểm soát 36A-371.76, Số máy: L15Z12334203, Số khung: 6667JY829295, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 065493 do Phòng C1 Công an tỉnh T cấp ngày 10/12/2018. Chủ sở hữu: Công ty TNHH N2.
Tài sản 6: Theo hợp đồng thế chấp số: 4443376/2021/HĐBĐ/NHCT422-NGOISAO ngày 27/07/2021, là Xe ô tô con nhãn hiệu MITSUBISHI – số loại: ATTRAGE sản xuất năm 2021, biển kiểm soát 36A-653.01, Số máy: 3A92UKK4444, Số khung: MMBSTA13ANH004011, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 36011459 do Phòng C1 Công an tỉnh T cấp ngày 12/07/2021. Chủ sở hữu: Công ty TNHH N2.
Tài sản 7: Theo hợp đồng thế chấp số: 4443377/2021/HĐBĐ/NHCT422-NGOISAO ngày 27/07/2021, là Xe ô tô con nhãn hiệu TOYOTA – số loại: VIOS sản xuất năm 2021, biển kiểm soát 36A-659.18, Số máy: 2NRX718045, Số khung: RL4B23F38M5115459, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 36012148 do Phòng C1 Công an tỉnh T cấp ngày 19/07/2021. Chủ sở hữu: Công ty TNHH N2.
Trường hợp, đã xử lý tài sản bảo đảm dùng thế chấp cho khoản vay mà vẫn không đủ để thu hồi toàn bộ khoản nợ, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác minh các nguồn thu nhập và tài sản hợp pháp khác thuộc quyền sở hữu của bị đơn là Công ty TNHH N2 để thu hồi xong toàn bộ khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.
Về án phí: - Công ty TNHH N2, phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật (đã làm tròn số) là: 124.831.000 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu, tám trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
- Trả lại cho Ngân hàng C - Chi nhánh S1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001617 ngày 11/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa là: 61.934.000đồng (Sáu mươi mốt triệu, chín trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của phap luật.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Thuyên |
Bản án số 06/2024/KDTM - ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN – TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 06/2024/KDTM - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN – TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: an