|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2024/HS-ST
Ngày 24-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hiệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Bà Phạm Thị Thương.
- - Ông Lương Mạnh Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Hoàng Thị Thu H, sinh ngày 26 tháng 7 năm 1987 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khối phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Nguyễn Thị M; chồng Hoàng Văn V và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/01/2024 đến nay. Có mặt.
-
Hoàng Thị N, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1936 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khối phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn R và bà Hoàng Thị V1; chồng Hoàng Văn B và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/01/2024 đến nay. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
-
Anh Nông Ngọc Q, sinh năm 1981. Vắng mặt.
Trú tại: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
-
Ông Hoàng Đ, sinh năm 1949. Vắng mặt.
Trú tại: Khối phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
-
Bà Dương Thị S, sinh năm 1940. Vắng mặt.
Trú tại: Khối phố P, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
-
Ông Hoàng Lê H1, sinh năm 1971. Vắng mặt.
Trú tại: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
-
Chị Nông Thị Y, sinh năm 1980. Vắng mặt.
Trú tại: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
-
Bà Bùi Thị M1, sinh năm 1960. Vắng mặt.
Trú tại: Khối phố P, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
-
Ông Hà Văn D, sinh năm 1963. Vắng mặt.
Trú tại: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
-
Anh Vương Thiên Q1, sinh năm 1989. Có mặt.
Trú tại: Khối phố N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hoàng Thị Thu H bắt đầu ghi số lô, số đề cho người đến đánh trực tiếp tại nhà riêng ở khối phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn từ khoảng tháng 04 năm 2023. Bị cáo có nhận ghi số lô, số đề cho người đến đánh trực tiếp và qua tin nhắn trên ứng dụng Zalo, mang tên “Abcd” đăng ký số điện thoại 0352.293.xxx. Trong hai ngày 25/12/2023 và 26/12/2023, Hoàng Thị Thu H đã bán số lô, số đề cho các đối tượng sau:
-
Bị cáo Hoàng Thị N trực tiếp đến nhà bị cáo Hoàng Thị Thu H mua số lô, số đề. Ngày 25/12/2023, bị cáo Hoàng Thị N mua các số đề, số lô là: 1.205.000 đồng (một triệu hai trăm linh năm nghìn đồng). Ngày 26/12/2023, bị cáo Hoàng Thị N tiếp tục mua các số lô, số đề ngày là 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng). Sau khi xem kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 25/12/2023, Hoàng Thị N đã trúng số lô 88 hai lần (hai nháy)/ 40 điểm lô. Tổng số tiền trúng thưởng là 6.400.000 đồng (sáu triệu bốn trăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc của bị cáo Hoàng Thị N trong ngày 25/12/2023 và ngày 26/12/2023 là 7.655.000 đồng (bảy triệu bảy trăm nghìn đồng). Hai bị cáo đã thanh toán tiền cho nhau.
-
Ông Nông Ngọc Q vào ngày 25/12/2023 đã trực tiếp đến nhà bị cáo Hoàng Thị Thu H mua các số đề là 30.000 đồng (ba mươi nghìn đồng). Vào ngày 26/12/2023, ông Nông Ngọc Q tiếp tục đến trực tiếp nhà bị cáo Hoàng Thị Thu H mua số lô, số đề ngày 26/12/2023 là 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc của Nông Ngọc Q trong ngày 25/12/2023 và 26/12/2023 là 570.000 đồng (năm trăm bảy mươi nghìn đồng). Ông Nông Ngọc Q đã trả tiền mua số lô, số đề cho bị cáo Hoàng Thị Thu H. Sau khi xem kết quả mở thưởng xổ số miền Bắc ngày 25/12/2023 thì Nông Ngọc Q không trúng thưởng.
-
Bà Dương Thị S vào ngày 25/12/2023, đã trực tiếp đến nhà bị cáo Hoàng Thị Thu H mua các số lô, số đề là 260.000 đồng (hai trăm sáu mươi nghìn đồng). Ngày 26/12/2023, bà Dương Thị S mua số lô, số đề là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc của bà Dương Thị S trong ngày 25 và 26/12/2023 là 410.000 đồng (bốn trăm mười nghìn đồng). Bà Dương Thị S đã trả tiền mua số lô, số đề cho bị cáo Hoàng Thị Thu H. Sau khi xem kết quả mở thưởng xổ số miền Bắc ngày 25/12/2023 thì Dương Thị S không trúng thưởng.
-
Ông Hoàng Đ vào ngày 25/12/2023, đã trực tiếp đến nhà Hoàng Thị Thu H mua các số lô, số đề là 255.000 đồng (hai trăm năm mươi năm nghìn đồng). Vào ngày 26/12/2023, ông Hoàng Đ mua các số lô, số đề là 305.000 đồng (ba trăm linh năm nghìn đồng). Ông Hoàng Đ đã trả tiền mua số lô, số đề cho bị cáo Hoàng Thị Thu H, sau khi xem kết quả mở thưởng xổ số miền Bắc ngày 25/12/2023 Hoàng Đ đã trúng số lô 88 hai lần (hai nháy)/ 5 điểm lô. Tổng số tiền trúng thưởng là 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc của Hoàng Đ trong ngày 25 và 26/12/2023 là 1.360.000 đồng (một triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng). Vào ngày 26/12/2023, Hoàng Thị Thu H đã trả tiền trúng thưởng cho Hoàng Đ.
-
Bà Nông Thị Y mua số lô, số đề với Hoàng Thị Thu H qua tin nhắn Zalo. Ngày 25/12/2023, bà Nông Thị Y mua các số lô, số đề là 326.000 đồng (ba trăm hai mươi sáu nghìn đồng). Ngày 26/12/2023, Nông Thị Y tiếp tục mua các số lô, số đề là 374.000 đồng (ba trăm bảy mươi tư nghìn đồng). Bà Nông Thị Y chưa trả tiền ghi số lô, số đề ngày 26/12/2023 cho bị cáo Hoàng Thị Thu H, sau khi xem kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 25/12/2023, Nông Thị Y đã trúng số lô 34 một lần (một nháy)/ 01 điểm lô; 67 một lần (một nháy)/ 02 điểm lô. Trúng số đề 25/5.000 đồng. Tổng số tiền trúng thưởng là 590.000 đồng (năm trăm chín mươi nghìn đồng), bị cáo Hoàng Thị Thu H đã trả tiền trúng thưởng cho Nông Thị Y. Tổng số tiền đánh bạc của Nông Thị Y trong ngày 25/12/2023 và 26/12/2023 là 1.290.000 đồng (một triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng).
-
Bà Bùi Thị M1 mua số lô, số đề với bị cáo Hoàng Thị Thu H qua tin nhắn Zalo. Ngày 25/12/2023, bà Bùi Thị M1 mua các số đề là 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Ngày 26/12/2023, bà Bùi Thị M1 mua các số lô, số đề là 645.000 đồng (sáu trăm bốn mươi năm nghìn đồng). Bà Bùi Thị M1 đã trả tiền mua số lô, số đề ngày 25/12/2023 cho bị cáo Hoàng Thị Thu H và chưa trả tiền mua số lô, số đề ngày 26/12/2023. Sau khi xem kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 25/12/2023 thì Bùi Thị M1 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của bà Bùi Thị M1 trong hai ngày 25/12/2023 và 26/12/2023 là 745.00 đồng (bảy trăm bốn mươi năm nghìn đồng).
-
Ông Hoàng Lê H1 mua số lô, số đề với bị cáo Hoàng Thị Thu H qua tin nhắn Zalo. Ngày 25/12/2023, ông Hoàng Lê H1 mua các số lô, số đề là 158.000 đồng (một trăm năm mươi tám nghìn đồng). Vào ngày 26/12/2023, ông Hoàng Lê H1 mua các số lô, số đề là 328.000 đồng (ba trăm hai mươi tám nghìn đồng). Sau khi xem kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 25/12/2023 thì ông Hoàng Lê Huy t số lô 25 một lần (một nháy)/ 01 điểm lô với số tiền trúng thưởng của ông Hoàng Lê H1 là 80.000 đồng (tám mươi nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc của ông Hoàng Lê H1 trong ngày 25/12/2023 và 26/12/2023 là 566.000 đồng (năm trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Ông Hoàng Lê H1 đã trả tiền mua số lô, số đề ngày 25/12/2023 cho Hoàng Thị Thu H và chưa trả tiền mua số đề ngày 26/12/2023. Bị cáo Hoàng Thị Thu H đã trả tiền trúng thưởng ngày 25/12/2023 cho Hoàng Lê Huy.
-
Ông Hà Văn D mua số lô, số đề với Hoàng Thị Thu H qua tin nhắn Zalo. Ngày 25/12/2023, ông Hà Văn D mua các số lô, số đề là 55.000 đồng (năm mươi năm nghìn đồng). Ngày 26/12/2023, ông Hà Văn D tiếp tục mua các số lô, số đề là 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng). Ông Hà Văn D chưa trả tiền mua số lô đề cho bị cáo Hoàng Thị Thu H với tổng số tiền là 105.000 đồng (một trăm linh năm nghìn). Sau khi xem kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 25/12/2023 thì ông Hà Văn D không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của ông Hà Văn D trong ngày 25/12/2023 và 26/12/2023 là 105.000 đồng (một trăm linh năm nghìn đồng).
-
Còn một người trúng số lô 87 một lần (một nháy)/ 5 điểm lô được 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng), người này chưa trả tiền đánh số lô, số đề cho bị cáo Hoàng Thị Thu H, bị cáo Hoàng Thị Thu H cũng chưa trả tiền trúng thưởng và không biết tên tuổi, địa chỉ của người này, người này trực tiếp đến mua số lô, số đề với bị cáo Hoàng Thị Thu H.
Tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề của bị cáo Hoàng Thị Thu H vào ngày 25/12/2023 là 11.796.000 đồng (mười một triệu bảy trăm chín sáu nghìn đồng). Trong đó số tiền ghi số lô, đề là 3.526.000 đồng (ba triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn đồng). Sau khi đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 25/12/2023 tổng số tiền trúng thưởng là 8.270.000 đồng (tám triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng).
Tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề của bị cáo Hoàng Thị Thu H vào ngày 26/12/2023 là 4.242.000 đồng (bốn triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn đồng). Hành vi đánh bạc của bị cáo Hoàng Thị Thu H bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang trước khi mở thưởng nên ngày 26/12/2023 không tính kết quả trúng thưởng.
Số tiền bị cáo Hoàng Thị Thu H được hưởng lợi từ việc bán số lô, số đề ngày 25/12/2023 là 370.000 đồng (ba trăm bảy mươi nghìn đồng); Ngày 26/12/2023, Hoàng Thị Thu H là 492.310 đồng (bốn trăm chín mươi hai nghìn ba trăm mười đồng). Tổng số tiền Hoàng Thị Thu H hưởng lợi từ việc bán số lô, số đề là 862.310 đồng (tám trăm sáu mươi hai nghìn ba trăm mười đồng).
Cách thức đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề như sau: Người đánh bạc sẽ mua số lô, số đề là 02 số tự nhiên từ 00 đến 99, số đề ba số (ba càng) là 03 số tự nhiên từ 000 đến 999. Căn cứ vào kết quả trúng thưởng xổ số miền B hằng ngày để xác định thắng thua. Bị cáo Hoàng Thị Thu H bán cho khách với giá mỗi điểm lô là 23.000 đồng (hai mươi ba nghìn đồng)/1 điểm, tỷ lệ được thua là 1/80, tương ứng nếu khách trúng một điểm lô thì được 80.000 đồng (tám mươi nghìn đồng); khách trúng lô là khách đánh trúng hai số cuối của 27 (hai mươi bảy) giải xổ số Miền Bắc ngày hôm đó. Với khách chơi đề và đề đầu đuôi, tỷ lệ được thua là 1/70, tương đương nếu khách trúng 1.000 đồng (một nghìn đồng) tiền đề sẽ được trả 70.000 đồng (bảy mươi nghìn đồng); khách trúng đề là khách đánh trúng hai số cuối của giải đặc biệt xổ số miền B của ngày hôm đó. Với khách chơi số đề ba càng trùng với ba số cuối của giải đặc biệt xổ số miền B của ngày hôm đó, tỷ lệ được thua là 1/400, tương đương nếu khách trúng 1.000 đồng (một nghìn đồng) tiền đề ba càng sẽ được trả 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Với khách chơi số lô xiên, nếu số lô xiên khách mua trùng với hai số cuối của bất kì giải thưởng nào của xổ số miền Bắc cùng ngày thì khách thắng (trúng lô xiên) bị cáo Hoàng Thị Thu H phải trả khách 10 lần số tiền khách đã bỏ ra để mua đối với lô xiên hai, gấp 40 lần đối với lô xiên ba, gấp 80 lần đối với lô xiên bốn.
Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B xác định: Bị cáo Hoàng Thị Thu H hằng ngày khi nhận bán số lô, số đề cho khách xong, bị cáo Hoàng Thị Thu H sẽ tổng hợp ghi các số lô, số đề vào một tờ giấy A4 (cáp), sau đó dùng điện thoại di động của bị cáo Hoàng Thị Thu H chụp ảnh bảng (cáp lô, đề) gửi tin nhắn cho Vương Thiên Q1 qua ứng dụng mạng xã hội T1, tên tài khoản “Abc” đăng ký số điện thoại 0367.928.xxx. Vào ngày 25/12/2023, bị cáo Hoàng Thị Thu H đã chuyển toàn bộ bảng (cáp lô, đề) cho Vương Thiên Q1. Ngày 26/12/2023, trước khi bị cơ quan Công an bắt quả tang bị cáo Hoàng Thị Thu H đã chuyển 03 (ba) hình ảnh bảng (cáp lô, đề) và 01 (một) tin nhắn gửi cho Vương Thiên Q1. Còn những bảng (cáp lô, đề) của những ngày trước, bị cáo Hoàng Thị Thu H đã huỷ giấy tờ và xoá ảnh chụp, tin nhắn ghi số lô, số đề nên không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý. Cách tính phần trăm hoa hồng giữa bị cáo Hoàng Thị Thu H và Vương Thiên Q1 như sau: Bị cáo Hoàng Thị Thu H mua số lô với Vương Thiên Q1 với giá 21.700 đồng (hai mốt nghìn bảy trăm đồng)/ một điểm lô, bán cho khách giá 23.000 đồng (hai mươi ba nghìn đồng)/ một điểm lô, được hưởng 1.300 đồng (một nghìn ba trăm đồng)/ một điểm lô; Mua số đề, số đề ba càng, số lô xiên, số đề đầu đuôi với giá 730 đồng (bảy trăm ba mươi đồng), bán cho khách giá 1.000 đồng (một nghìn đồng), được hưởng 270 đồng (hai trăm bảy mươi đồng). Bị cáo Hoàng Thị Thu H không ký hợp đồng đại lý với công ty X kiến thiết nào.
Đối với Vương Thiên Q1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành khám xét nơi ở nhưng không phát hiện, thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan. Tiến hành điều tra, xác minh lấy lời khai, đối chất giữa Hoàng Thị Thu H và Vương Thiên Q1. Nhưng chưa có đủ căn cứ xem xét xử lý đối với Vương Thiên Q1. Do đó, Cơ quan điều tra tách riêng để xác minh, xử lý ở vụ việc khác.
Các đối tượng Nông Ngọc Q, Dương Thị S, Hoàng Đ, Nông Thị Y, Bùi Thị M1, Hoàng Lê H1 và Hoàng Văn D1 có hành vi mua số lô, số đề nhưng với số tiền đánh bạc không lớn, chưa đủ định mức để truy cứu trách nhiệm hình sự, qua xác minh và kết quả tra cứu của Phòng hồ sơ nghiệp vụ kết luận các đối tượng này chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Do vậy, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng này theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng đến trực tiếp đánh bạc (mua số lô, số đề) với bị cáo Hoàng Thị Thu H trong ngày 25/12/2023 và 26/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, Cơ quan điều tra tách riêng để xác minh, xử lý ở vụ việc khác.
Tại Bản cáo trạng số 05/CT-VKS-HS ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Hoàng Thị Thu H và Hoàng Thị N về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị Thu H khai nhận, hành vi đánh bạc; còn bị cáo Hoàng Thị N trong giai đoạn điều tra khai nhận hành vi đánh bác như Cáo trạng truy tố ra trước Tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không bị ép cung, nhục hình, bức cung trong quá trình điều tra truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng Thị Thu H và Hoàng Thị N phạm tội Đánh bạc:
* Về căn cứ pháp luật và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thị Thu H từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định, giao bị cáo cho UBND thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn quản lý giáo dục
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, o, x khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thị N từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
* Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 4.231.000 đồng là tiền đánh bạc của các bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong ngày 26/12/2023, tiền thưởng ngày 25/12/2023 đã được nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, màu đỏ đen, máy cũ đã qua sử dụng bị vỡ, xước nhiều chỗ nhãn hiệu Realme C3 của bị cáo Hoàng Thị Thu H.
Lưu trữ 04 (bốn) tờ giấy A4 (cáp) ghi số lô, số đề có chữ ký Hoàng Thị Thu H kèm trong hồ sơ vụ án (đã đóng bút lục).
* Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Truy thu sung công quỹ nhà nước bị cáo Hoàng Thị Thu H số tiền đánh bạc ngày 25/12/2023 là 3.871.000 đồng, ngày 26/12/2023 là 2.845.000 đồng và tiền hưởng lợi từ việc bán số lô, số đề 370.000 đồng ngày 25/12/202; 492.310 đồng ngày 26/12/2023. Tổng số tiền phải truy thu của bị cáo Hoàng Thị Thu H là 7.578.310 đồng. Được trừ đi số tiền bắt quả tang là số tiền đánh bạc 2.612.000 đồng. Nay bị cáo Hoàng Thị Thu H phải nộp số còn lại là 4.966.310 đồng.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc của bị cáo Hoàng Thị N số tiền trúng thưởng ngày 25/12/2023 là 6.400.000 đồng.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền trúng thưởng ngày 25/12/2023 của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Đ số tiền 800.000 đồng. Được trừ đi số tiền mà ông Hoàng Đ đã nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B 495.000 đồng. Nay ông Hoàng Đ phải nộp số còn lại là 305.000 đồng.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền trúng thưởng ngày 25/12/2023 của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị Y số tiền 590.000 đồng và tiền đánh bạc ngày 26/12/2023 số tiền 374.000 đồng. Tổng số tiền phải truy thu là 964.000 đồng. Được trừ đi số tiền mà bà Nông Thị Y đã nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B 374.000 đồng. Bà Nông Thị Y phải nộp số tiền còn lại là 590.000 đồng.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Lê H1 328.000 đồng ngày 26/12/2023 và tiền trúng thưởng ngày 25/12/2023 là 80.000 đồng. Tổng là 408.000 đồng.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc ngày 25/12/2023 55.000 đồng và ngày 26/12/2023 50.000 đồng của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn D với tổng số tiền 105.000 đồng. Được trừ đi số tiền mà ông Hà Văn D đã nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B 105.000 đồng. Ông Hà Văn D đã nộp đủ.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị M1 645.000 đồng ngày 26/12/2023. Được trừ đi số tiền mà bà Bùi Thị M1 đã nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B 645.000 đồng. Bà Bùi Thị M1 đã nộp đủ.
* Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Hoàng Thị Thu H và Hoàng Thị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Hoàng Thị Thu H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo Hoàng Thị Thu H do con còn nhỏ nên xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cải tạo tại địa phương, vì tuổi đời còn trẻ, để học hỏi, làm người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc xét xử vắng mặt bị cáo Hoàng Thị N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nông Ngọc Q, bà Dương Thị S, ông Hoàng Đ, bà Nông Thị Y, ông Hoàng Lê H1, ông Hà Văn D, bà Bùi Thị M1 được Tòa án nhân dân huyện Bình Gia triệu tập hợp lệ đến phiên tòa và đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy bị cáo Hoàng Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt vì lý do tuổi cao, sức khỏe yếu; bị cáo Hoàng Thị Thu H, đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu hoãn phiên tòa; mặt khác trong hồ sơ cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai những người này. Việc vắng mặt của những người trên không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; do đó căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290; khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.
[3] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên toà bị cáo Hoàng Thị Thu H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và cũng phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án; còn bị cáo Hoàng Thị N trong quá trình điều tra đã khai rõ về hành vi phạm tội của bản thân nhưng do tuổi cao sức yếu nên không tham gia phiên tòa được; hành vi phạm tội của các bị cáo cụ thể như sau: Vào hồi 18 giờ 00 ngày 26/12/2023, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma tuý Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn phát hiện, bắt quả tang bị cáo Hoàng Thị Thu H đang có hành vi ghi trái phép số lô, số đề cho ông Nông Ngọc Q. Qua quá trình điều tra xác định, trong ngày 25/12/2023 và ngày 26/12/2023, tổng số tiền Hoàng Thị Thu H đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề trái phép là 16.038.000 đồng (mười sáu triệu không trăm ba mươi tám nghìn đồng). Trong ngày 25/12/2023 và 26/12/2023, Hoàng Thị N đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề với Hoàng Thị Thu H với số tiền 7.655.000 đồng (bảy triệu bảy trăm nghìn đồng). Do đó có căn cứ xác định các bị cáo Hoàng Thị Thu H và Hoàng Thị N phạm tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia truy tố các bị cáo hoàn toàn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Bản chất các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề là vi phạm pháp luật. Hành vi đánh bạc là hành vi nguy hiểm cho xã hội, lôi kéo nhiều người tham gia, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trong lĩnh vực quản lý xã hội của nhà nước. Mặt khác hành vi phạm tội Đánh bạc của các bị cáo cũng là một trong những nguyên nhân phát sinh các tệ nạn và tội phạm khác trong xã hội, nhất là địa phương của các bị cáo. Do vậy cần phải có hình thức xử lý nghiêm khắc, mới mang tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm về hành vi ghi số lô số đề tại địa phương.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Thị N là người cao tuổi trên 70 tuổi; là người có công với cách mạng được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì vì có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Để có mức án tương xứng với hành vi của các bị cáo, thấy rằng: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Trong vụ án này các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn. Bị cáo Hoàng Thị Thu H là người trực tiếp bán số lô số đề nên bị cáo có vai trò chính trong vụ án. Để cá thể hóa hình phạt, ngoài việc xem xét đến tính chất, hành vi phạm tội nêu trên còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt. Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Hoàng Thị Thu H có vai trò chính, nhận thức được hành vi ghi số lô số đề là vi phạm pháp luật. Đối với bị cáo Hoàng Thị N tuổi cao, sức yếu. Căn cứ theo quy định tại Điều 65 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hội đồng xét xử quyết định xử phạt các bị cáo hình phạt án treo, cải tạo không giam giữ ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền nơi cư trú nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[8] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Qua xác minh và tại phiên tòa, xét thấy các bị cáo không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[9] Trong quá trình điều tra những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nông Ngọc Q, bà Dương Thị S, ông Hoàng Đ, bà Nông Thị Y, ông Hoàng Lê H1, ông Hà Văn D, bà Bùi Thị M1 không có ý kiến gì về số tiền liên quan đến việc ghi số lô đề nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 4.231.000 đồng là tiền đánh bạc của các bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong ngày 26/12/2023, tiền trúng thưởng ngày 25/12/2023 đã được nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B.
[11] Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, màu đỏ đen, máy cũ đã qua sử dụng bị vỡ, xước nhiều chỗ nhãn hiệu Realme C3 của bị cáo Hoàng Thị Thu H.
[12] Lưu trữ 04 (bốn) tờ giấy A4 (cáp) ghi số lô, số đề có chữ ký Hoàng Thị Thu H kèm trong hồ sơ vụ án (đã đóng bút lục).
[13] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự: Truy thu sung công quỹ nhà nước bị cáo Hoàng Thị Thu H số tiền đánh bạc ngày 25/12/2023 là 3.871.000 đồng, ngày 26/12/2023 là 2.845.000 đồng và tiền hưởng lợi từ việc bán số lô, số đề 370.000 đồng ngày 25/12/202; 492.310 đồng ngày 26/12/2023. Tổng số tiền phải truy thu của bị cáo Hoàng Thị Thu H là 7.578.310 đồng. Được trừ đi số tiền bắt quả tang là số tiền đánh bạc ngày 2.612.000 đồng. Nay bị cáo Hoàng Thị Thu H phải nộp số còn lại là 4.966.310 đồng.
[14] Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc của bị cáo Hoàng Thị N số tiền trúng thưởng ngày 25/12/2023 là 6.400.000 đồng.
[15] Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền trúng thưởng ngày 25/12/2023 của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Đ số tiền 800.000 đồng. Được trừ đi số tiền mà ông Hoàng Đ đã nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B 495.000 đồng. Nay ông Hoàng Đ phải nộp số còn lại là 305.000 đồng.
[16] Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền trúng thưởng ngày 25/12/2023 của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị Y số tiền 590.000 đồng và tiền đánh bạc ngày 26/12/2023 số tiền 374.000 đồng. Tổng số tiền phải truy thu là 964.000 đồng. Được trừ đi số tiền mà bà Nông Thị Y đã nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B 374.000 đồng. Bà Nông Thị Y phải nộp số tiền còn lại là 590.000 đồng.
[17] Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Lê H1 ngày 26/12/2023 là 328.000 đồng và tiền trúng thưởng ngày 25/12/2023 là 80.000 đồng. Tổng số tiền là 408.000 đồng.
[18] Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc ngày 25/12/2023 là 55.000 đồng và ngày 26/12/2023 là 50.000 đồng của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn D với tổng số tiền 105.000 đồng. Được trừ đi số tiền mà ông Hà Văn D đã nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B 105.000 đồng. Ông Hà Văn D đã nộp đủ.
[19] Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị M1 ngày 26/12/2023 là 645.000 đồng. Được trừ đi số tiền mà bà Bùi Thị M1 đã nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B 645.000 đồng. Bà Bùi Thị M1 đã nộp đủ.
[20] Căn cứ theo Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Hoàng Thị Thu H và Hoàng Thị N mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
[21] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt cũng như các vấn đề khác đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[22] Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Thị Thu H.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x, o khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Thị N.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 262; điểm c khoản 2 Điều 290; khoản 1 Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Thị Thu H và Hoàng Thị N phạm tội Đánh bạc.
* Hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Thu H 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng. Thời gian chấp hành án tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị N 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hính sự Công an huyện B nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Giao bị cáo Hoàng Thị N cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
* Hình phạt bổ sung:
Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo Hoàng Thị Thu H và Hoàng Thị N.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 4.231.000 đồng là tiền đánh bạc của các bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong ngày 26/12/2023, tiền thưởng ngày 25/12/2023 đã được nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B lập ngày 26/3/2024.
Lưu trữ 04 (bốn) tờ giấy A4 (cáp) ghi số lô, số đề có chữ ký Hoàng Thị Thu H kèm trong hồ sơ vụ án (đã đóng bút lục).
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, màu đỏ đen, máy cũ đã qua sử dụng bị vỡ, xước nhiều chỗ nhãn hiệu Realme C3 của bị cáo Hoàng Thị Thu H.
Vật chứng, tài sản trên được ghi theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện B với Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Gia ngày 26 tháng 3 năm 2024.
3. Về biện pháp tư pháp:
Truy thu sung công quỹ nhà nước bị cáo Hoàng Thị Thu H số tiền đánh bạc ngày 25/12/2023 là 3.871.000 đồng, ngày 26/12/2023 là 2.845.000 đồng và tiền hưởng lợi từ việc bán số lô, số đề 370.000 đồng ngày 25/12/202; 492.310 đồng ngày 26/12/2023. Tổng số tiền phải truy thu của bị cáo Hoàng Thị Thu H là 7.578.310 đồng. Được trừ đi số tiền bắt quả tang là số tiền đánh bạc ngày 2.612.000 đồng. Nay bị cáo Hoàng Thị Thu H phải nộp số còn lại là 4.966.310 đồng.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc của bị cáo Hoàng Thị N số tiền trúng thưởng ngày 25/12/2023 là 6.400.000 đồng.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền trúng thưởng ngày 25/12/2023 của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Đ số tiền 800.000 đồng. Được trừ đi số tiền mà ông Hoàng Đ đã nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B 495.000 đồng. Nay ông Hoàng Đ phải nộp số còn lại là 305.000 đồng.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền trúng thưởng ngày 25/12/2023 của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị Y số tiền 590.000 đồng và tiền đánh bạc ngày 26/12/2023 số tiền 374.000 đồng. Tổng số tiền phải truy thu là 964.000 đồng. Được trừ đi số tiền mà bà Nông Thị Y đã nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B 374.000 đồng. Bà Nông Thị Y phải nộp số tiền còn lại là 590.000 đồng.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Lê H1 328.000 đồng ngày 26/12/2023 và tiền trúng thưởng ngày 25/12/2023 là 80.000 đồng. Tổng số tiền là 408.000 đồng.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc ngày 25/12/2023 55.000 đồng và ngày 26/12/2023 50.000 đồng của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn D với tổng số tiền 105.000 đồng. Được trừ đi số tiền mà ông Hà Văn D đã nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B 105.000 đồng. Ông Hà Văn D đã nộp đủ.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị M1 645.000 đồng ngày 26/12/2023. Được trừ đi số tiền 645.000 đồng trong số tiền tịch thu 4.231.000 đồng mà bà Bùi Thị M1 đã nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện B. Bà Bùi Thị M1 đã nộp đủ.
4. Về án phí:
Buộc các bị cáo Hoàng Thị Thu H và Hoàng Thị N mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo Hoàng Thị Thu H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vương Thiên Q1 báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị cáo Hoàng Thị N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nông Ngọc Q, bà Dương Thị S, ông Hoàng Đ, bà Nông Thị Y, ông Hoàng Lê H1, ông Hà Văn D, bà Bùi Thị M1 báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Dương Thị Hiệt |
Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 06/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 18 giờ 00 ngày 26/12/2023, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma tuý Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn phát hiện, bắt quả tang bị cáo Hoàng Thị Thu H đang có hành vi ghi trái phép số lô, số đề cho ông Nông Ngọc Q. Qua quá trình điều tra xác định, trong ngày 25/12/2023 và ngày 26/12/2023, tổng số tiền Hoàng Thị Thu H đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề trái phép là 16.038.000 đồng (mười sáu triệu không trăm ba mươi tám nghìn đồng). Trong ngày 25/12/2023 và 26/12/2023, Hoàng Thị N đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề với Hoàng Thị Thu H với số tiền 7.655.000 đồng (bảy triệu bảy trăm nghìn đồng).
