|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LIÊU TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2024/HS-ST Ngày 28/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LIÊU, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Tiến Thành.
2. Ông Lý Văn Thường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Huy Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 06/2024/HS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Văn T; tên gọi khác: không; sinh ngày: 24/4/1978, tại huyện B, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lái xe ô tô; trình độ văn hóa: lớp 5/12; dân tộc: Tày; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Đức Q (đã chết) và bà Phạm Thị T; có vợ: Vi Thị T, sinh năm 1979 và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: chưa có.
Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/12/2023 đến ngày 29/12/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn; Hiện đang bị áp dụng biện pháp: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Loan Đức L; sinh năm 1973; nơi cư trú: khu B2, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 15 phút, ngày 21/12/2023, tại khu vực thuộc Km 29, quốc lộ 18, thuộc khu C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, Đội Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Công an huyện Bình Liêu kiểm tra hành chính xe mô tô biển kiểm soát 14P7-5914 do Loan Đức L (sinh năm 1973, trú tại khu B2, thị trấn B) điều khiển, phía sau chở Lý Văn T, qua kiểm tra đã phát hiện T có hành vi tàng trữ trái phép vật liệu nổ, thu giữ trong túi áo bên phải và bên trái của T có 01 kíp nổ và 100 gam thuốc nổ.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của Lý Văn T tại khu B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, thu giữ trong phòng ngủ của T có 24 kíp nổ.
Tại bản Kết luận giám định số 9336, ngày 24/12/2023 của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh kết luận:
- 01 (một) vật bằng kim loại hình trụ, có kích thước (4,5 x 0,7cm) một đầu màu đồng, một đầu màu đen cắt vát và 24 (hai mươi bốn) chiếc ống kim loại, hình trụ tròn, màu vàng đồng, cùng có kích thước (5,8 x 0,7cm) một đầu liền kín, đầu ống còn lại gắn dây màu đỏ và một dây màu vàng dài 03cm là kíp nổ điện bằng đồng, bên trong có chứa thuốc nổ Fulminat Thủy Ngân (được sản xuất tại nước Việt Nam), còn sử dụng được.
- 100 (một trăm) gam chất dẻo màu trắng có trong túi nilon màu vàng là Thuốc nổ Nhũ tương (thuốc nổ công nghiệp do nước Việt Nam sản xuất).
Quá trình điều tra, Lý Văn T khai: T làm lái xe của Công ty TNHH P.X, được Công ty than K.C thuê đưa đón công nhân, từ đầu năm 2023, T có nhiệm vụ lái xe đưa, đón công nhân đi từ khai trường đến các điểm. Quá trình lái xe, T đã nhặt được số kíp nổ và thuốc nổ trên (T không nhớ ở vị trí nào) sau đó mang về nhà cất giấu để sử dụng vào việc đánh cá. Ngày 21/12/2023, T rủ anh L đi đến suối B.C, xã L, huyện B để bắt cá. Khi đi, T đã lấy 01 kíp nổ và 100 gam thuốc nổ để ở nhà, cất giấu trong người, mục đích để đánh bắt cá nhưng không nói cho anh L biết. Khi anh L điều khiển xe mô tô BKS 14P7-5914 chở Lý Văn T đi đến khu vực thuộc Km 29, quốc lộ 18, thuộc khu C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh thì bị Công an kiểm tra, thu giữ vật chứng.
Vật chứng và đồ vật, tài sản tạm giữ:
- Số thuốc nổ, kíp nổ tạm giữ của Lý Văn T đã được Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh sử dụng hết trong quá trình giám định;
- Chiếc xe mô tô BKS 14P7-5914 tạm giữ của anh Loan Đức L được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Liêu để quản lý theo quy định trong khi chờ xử lý.
Tại Bản cáo trạng số: 3155/CT-VKSQN-P1 ngày 09 tháng 7 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lý Văn T về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” quy định tại khoản 1, Điều 305 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 1 Điều 305; điểm s khoản1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lý Văn T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Thời hạn tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị cáo Lý Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã quy kết, không có tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố cơ bản đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình tiến hành tố tụng không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Chứng cứ, tài liệu do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập đều hợp pháp và đảm bảo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, các hành vi tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lý Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, đúng sự thật, không bị bức cung. Bị cáo khai: Bị cáo làm lái xe của Công ty TNHH P.X, được Công ty than K.C thuê đưa đón công nhân từ khai trường đến các điểm từ đầu năm 2023. Quá trình lái xe, T đã nhặt được số kíp nổ và thuốc nổ (T không nhớ ở vị trí nào) sau đó mang về nhà cất giấu để sử dụng vào việc đánh cá. Ngày 21/12/2023, T rủ anh L đi đến suối B.C, xã L, huyện B để bắt cá. Khi đi, T đã lấy 01 kíp nổ và 100 gam thuốc nổ để ở nhà cất giấu trong người, mục đích để đánh bắt cá nhưng không nói cho anh L biết. Khi anh L điều khiển xe mô tô BKS 14P7-5914 chở Lý Văn T đi đến khu vực thuộc Km 29, quốc lộ 18, thuộc khu C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh thì bị Công an kiểm tra, thu giữ vật chứng.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ trong vụ án là 25 kíp nổ và100 gam thuốc nổ; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:
- Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm vào hồi 21 giờ 30 phút ngày
21/12/2023, tại trụ sở Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh.
- Tại bản Kết luận giám định số 9336, ngày 24/12/2023 của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh kết luận:
+ 01 (một) vật bằng kim loại hình trụ, có kích thước (4,5 x 0,7cm) một đầu màu đồng, một đầu màu đen cắt vát và 24 (hai mươi bốn) chiếc ống kim loại, hình trụ tròn, màu vàng đồng, cùng có kích thước (5,8 x 0,7cm) một đầu liền kín, đầu ống còn lại gắn dây màu đỏ và một dây màu vàng dài 03cm là kíp nổ điện bằng đồng, bên trong có chứa thuốc nổ Fulminat Thủy Ngân (được sản xuất tại nước Việt Nam), còn sử dụng được.
+ 100 (một trăm) gam chất dẻo màu trắng có trong túi nilon màu vàng là Thuốc nổ Nhũ tương (thuốc nổ công nghiệp do nước Việt Nam sản xuất).
Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo Lý Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” được quy định tại khoản 1, Điều 305 của Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, vi phạm điều kiện về sản xuất, kinh doanh và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp. Vì vậy, cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế, có bố đẻ là thương binh được Hội đồng Bộ trưởng tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, do vậy bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tương ứng quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.
[6] Về hình phạt: Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, khối lượng vật liệu nổ tàng trữ không nhiều, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo không cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội, mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục với một thời gian thử thách nhất định, cũng đủ để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, phải nuôi con còn nhỏ nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Số thuốc nổ, kíp nổ tạm giữ của Lý Văn T đã được Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh sử dụng hết trong quá trình giám định nên không đề cập giải quyết.
[9] Về tài sản liên quan đến vụ án: Đối với chiếc xe mô tô BKS 14P7-5914, đây là tài sản hợp pháp của anh Loan Đức L, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho anh Loan Đức L.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản1, Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
Xử phạt: Bị cáo Lý Văn T 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân thị trấn B, huyện B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn là Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 09/2024/LCĐKNCT ngày 25/7/2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 09/QĐ-TA ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Lý Văn T.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Trả lại cho anh Loan Đức L 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu xanh đen, biển kiểm soát 14P7-5914, số máy: 2076869 (HC12E-2076869), số khung: 350525 (RLHHC123289350525). Xe cũ đã qua sử dụng, thân xe, vỏ xe có nhiều vết trầy xước, móp méo, vỡ, xe có 01 gương chiếu hậu. Anh L có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/8/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lý Văn T phải chịu: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án, phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Hải |
Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LIÊU, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự - tàng trữ trái phép vật liệu nổ
- Số bản án: 06/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép vật liệu nổ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LIÊU, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ 15 phút, ngày 21/12/2023, tại khu vực thuộc Km 29, quốc lộ 18, thuộc khu C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, Đội Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Công an huyện Bình Liêu kiểm tra hành chính xe mô tô biển kiểm soát 14P7-5914 do Loan Đức L (sinh năm 1973, trú tại khu B2, thị trấn B) điều khiển, phía sau chở Lý Văn T, qua kiểm tra đã phát hiện T có hành vi tàng trữ trái phép vật liệu nổ, thu giữ trong túi áo bên phải và bên trái của T có 01 kíp nổ và 100 gam thuốc nổ. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của Lý Văn T tại khu B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, thu giữ trong phòng ngủ của T có 24 kíp nổ. Tại Bản cáo trạng số: 3155/CT-VKSQN-P1 ngày 09 tháng 7 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lý Văn T về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” quy định tại khoản 1, Điều 305 Bộ luật hình sự.
