Hệ thống pháp luật

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Văn Cường.

Thẩm phán: ông Trần Tuấn Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. ông Quách Văn Nhân;
  2. ông Phan Minh Tùng;
  3. bà Lê Thị Đổi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Minh Huy, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quân và Triệu Thị Phương V - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2024/TLST-HS-CTN ngày 26 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Lê Hoàng T, sinh ngày 24/9/2002 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: khu phố B, phường I, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng T1, sinh năm 1984 và bà Lê Hồng P, sinh năm 1986; vợ, con: chưa có; tiền án; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 07/7/2022, chuyển tạm giam từ ngày 16/7/2022 cho đến nay (có mặt).
  2. Nguyễn Minh T2, sinh ngày 06/12/2005 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phương L, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Thu T3, sinh năm 1979; vợ, con: chưa có; tiền án; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 07/7/2022, chuyển tạm giam ngày 16/7/2022 cho đến nay (có mặt).
  3. Nguyễn Ngọc Anh T4, tên gọi khác (T5, B), sinh ngày 22/8/2004 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: khu phố B, phường I, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Hẻm S, khu phố E, phường I, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Lâm V1, sinh năm 1983 và Bùi Thị T6, sinh năm 1986; chồng, con: chưa có; tiền án; tiền sự: không. Bị cáo tạm giữ ngày 07/7/2022, chuyển sang tạm giam ngày 16/7/2022 cho đến nay (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng T: ông Huỳnh Tấn H - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc Anh T4: bà Trần Thị Cẩm V2, Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Tây Ninh (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh T2:

+ Ông Đinh Thái H1, Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Tây Ninh (có mặt).

+ Ông Huỳnh Tấn H - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Minh T2: anh Nguyễn Phương L, sinh năm: 1978 và chị Nguyễn Thị Thu T3, sinh năm: 1979; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (là cha mẹ bị cáo T2, chị Nguyễn Thị Thu T3 có mặt, anh Nguyễn Phương L vắng mặt).

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Ngọc Anh T4 là: ông Nguyễn Lâm V1, sinh năm 1983 và Bùi Thị T6, sinh năm 1986 (là cha và mẹ bị cáo T4 vắng mặt).

- Bị hại: anh Phạm Công D, sinh năm: 1987; địa chỉ: khu phố B, Phường I, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Lê Hoàng T1, sinh năm 1984 và bà Lê Hồng P, sinh năm 1986 ( là cha, mẹ bị cáo T có mặt bà Lê Hồng Phượng P1 vắng mặt ông Lê Hoàng T1 ).

- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1954 và bà Lâm Thị T7, sinh năm 1959: địa chỉ: khu phố B, phường I, thành phố T, tỉnh Tây Ninh ( là ông nội, bà nội bị cáo T4 có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 03/7/2022, Lê Hoàng T, Nguyễn Minh T2Nguyễn Ngọc Anh T4 thuê xe ô tô biển số 70A-362.47, do anh Đặng Trung H2 làm tài xế chở cả ba đến khu vực cầu Q để ăn tối. Khi anh H2 điều khiển xe ô tô đến khu vực trước quán chè “Bà T8” trên đường Y thuộc khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh do phương tiện đông nên anh H2 cho xe đi chậm. Lúc này, anh Phạm Công D điều khiển xe mô tô Honda Vission biển số 70B1-939.09 từ phía sau chạy vượt lên va chạm vào phần bánh sau bên phải xe ô tô của anh H2, T hạ kính xe ô tô xuống và tranh cãi với anh D đồng thời lấy 01 cây dao (chiều dài 64cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 46cm) bước xuống xe, anh D điều khiển xe mô tô chạy thẳng về phía T, T tránh kịp và dùng dao chém 01 nhát vào vai trái của anh D, anh D cùng xe mô tô té ngã xuống đường. T đi đến chỗ anh D té ngã trong tư thế ngồi, cầm dao bằng tay phải đứng đối diện chém 02 nhát theo hướng từ trên xuống, anh D dùng tay chống đỡ nên T chém trúng vào mặt ngoài cánh tay trái và phần cẳng tay phải của anh D. Thấy T chém anh D, T2 cầm 01 cây dao (chiều dài 64cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 46cm) bằng tay phải đứng đối diện chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống, anh D đưa tay chống đỡ nên T2 chém trúng vào mặt ngoài cánh tay trái của anh D; T4 cầm 01 cây dao (chiều dài 46cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm) bằng tay trái đứng phía sau lưng chém 02 nhát trúng vào vùng vai và lưng phải anh D. Liền lúc này, anh H2 bước xuống xe can ngăn nên T, T2T4 lên xe anh H2 chở về đến khu vực ngã tư B thuộc phường I, thành phố T, tỉnh Tây Ninh thì tất cả xuống xe. Thư đón taxi về nhà; TT2 mang 03 cây dao đến vứt bỏ tại phần đất trống trên đường T thuộc khu phố E, phường I, thành phố T, tỉnh Tây Ninh rồi bỏ trốn. Riêng anh H2 sau khi T, T2, T4 xuống xe thì về nhà rước khách.

Riêng anh Phạm Công D sau khi bị chém được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện chấn thương chỉnh hình thành phố H điều trị đến ngày 19/7/2022, thì xuất viện.

Ngày 07/7/2022, Lê Hoàng T, Nguyễn Minh T2Nguyễn Ngọc Anh T4 đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 199 ngày 03/8/2022, của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh T kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Công D do thương tích gây nên hiện tại là 69%.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: có bản kê kèm theo.

* Về trách nhiệm dân sự: anh Phạm Công D yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích 122.838.000 đồng và bồi thường tiền tổn thất tinh thần 210.000.000 đồng. Gia đình Lê Hoàng T bồi thường 6.000.000 đồng, Nguyễn Minh T2 bồi thường 40.000.000 đồng và Nguyễn Ngọc Anh T4 bồi thường 1.000.000 đồng.

Cáo trạng số: 08/CT-VKS-P2 ngày 19 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Lê Hoàng T, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Ngọc Anh T4, về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Kiểm sát viên: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo cáo Lê Hoàng T, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Ngọc Anh T4 phạm tội “Giết người”.

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng T từ 12 năm đến 14 năm tù.

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T2 từ 07 năm đến 09 năm tù.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A Thư từ 05 năm đến 07 năm tù

Bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

- Ý kiến của người bào chữa:

- Luật sư Huỳnh Tấn H bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng T trình bày: Thống nhất với Viện kiểm sát truy tố bị cáo T về tội “Giết người”. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trong vụ án có phần lỗi của bị hại, bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt dưới khung hình phạt cho bị cáo T.

- Luật sư Đinh Thái H1 bào chữa bị cáo Nguyễn Minh T2 trình bày: Thống nhất tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo T2 như Viện kiểm sát nêu trên. Không thống nhất mức án đề xuất cho bị cáo T2 từ 07 năm đến 09 năm tù. Do bị cáo T2 phạm tội ở tuổi chưa thành niên mức án không quá ¼ mức án tù so với người đã thành niên, phạm tội chưa đạt cần áp dụng Điều 57; Điều 101 và Điều 102 Bộ luật Hình sự để xử lý đối với bị cáo T2, đối chiếu với các điều luật này bị cáo T2 mức hình phạt từ 4,5 năm tù đến 7,5 năm tù. Bị cáo T2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án 4,5 năm tù.

- Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Tây Ninh bà Trần Thị Cẩm V2 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc Anh T4 trình bày: Thống nhất như lời bào chữa của các luật sư bào chữa cho các bị cáo tại phiên toà về tội danh đã truy tố, các tình tiết giảm nhẹ, bị cáo T4 có hoàn cảnh khó khăn, cha, mẹ ly hôn phải sống chung cùng ông, bà nội, đã khắc phục phần thiệt hại, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thống nhất đề nghị mức án của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: các bị cáo Lê Hoàng T, Nguyễn Minh T2Nguyễn Ngọc Anh T4 xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho các bị cáo, các bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Trên cơ sở điều tra, lời khai của các bị cáo, bị hại cùng các tài liệu các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được có căn cứ xác định: Vào khoảng 17 giờ ngày 03/7/2022, bị cáo Nguyễn Minh T2 rủ Lê Hoàng T đi đến khu vực Cổng văn hoá ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh để nhận 03 cây dao tự chế do T2 đặt mua trước đó trên mạng xã hội và điện thoại bị cáo Nguyễn Ngọc Anh T4 ra khu vực cổng chào gặp nhau đi chơi. Khi nhận được 03 cây dao Thông giữ 01 cây dao còn T4 giữ 02 cây dao. Đến 19 giờ cùng ngày, T điện thoại thuê xe ô tô biển số 70A-362.47 do anh Đặng Trung H2 làm tài xế chở cả ba đến khu vực Cầu Q để ăn tối. Khi anh H2 điều khiển xe ô tô đến khu vực trước quán chè “Bà T8” trên đường Y thuộc khu phố B, phường I, thành phố T, tỉnh Tây Ninh do phương tiện đông nên anh H2 cho xe đi chậm. Lúc này, anh Phạm Công D điều khiển xe mô tô Honda Vission biển số 70B1-939.09 từ phía sau chạy vượt lên va chạm vào phần bánh sau bên phải xe ô tô của anh H2, T hạ kính xe ô tô xuống và tranh cãi với anh D đồng thời lấy 01 cây dao bước xuống xe, anh D điều khiển xe mô tô chạy thẳng về phía T, T tránh kịp và dùng dao chém 01 nhát vào vai trái của anh D, anh D cùng xe mô tô té ngã xuống đường. T đi đến chỗ anh D té ngã trong tư thế ngồi bẹp, cầm dao bằng tay phải đứng đối diện chém 02 nhát theo hướng từ trên xuống, anh D dùng tay chống đỡ nên T chém trúng vào mặt ngoài cánh tay trái và phần cẳng tay phải của anh D. Thấy T chém anh D, T2 cầm 01 cây dao bằng tay phải đứng đối diện chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống, anh D đưa tay chống đỡ nên T2 chém trúng vào mặt ngoài cánh tay trái của anh D; T4 cầm 01 cây dao bằng tay trái đứng phía sau lưng chém 02 nhát trúng vào vùng vai và lưng phải anh D gây thương tích cho anh D 69%. Các bị cáo dùng dao là hun khí nguy hiểm chém từ trên xuống, chém vào vùng trọng yếu cơ thể anh D, anh D không chết là ngoài ý muốn của các bị cáo. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Lê Hoàng T, Nguyễn Minh T2Nguyễn Ngọc Anh T4 về tội “Giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo:

Xuất phát từ việc xe mô tô của anh D va chạm vào bánh xe sau của xe ô tô anh H2 điều khiển chở các bị cáo thì bị cáo T hạ kín xe ô tô xuống cải vã nhau, sẵn có hun khí vừa nhận được T dùng dao chém từ trên xuống 02 cái khi anh D ngã tư thế ngồi bẹp không chống đỡ được, thấy vậy bị cáo T2 cầm dao tiếp ứng đứng đối diện chém 01 cái trúng mặt ngoài tay trái anh D; bị cáo T4 cầm dao đứng phía sau lưng chém 02 cái vùng vai và lưng anh D. Bị cáo T là người trực tiếp gây sự và chém anh D do đó phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án, bị cáo T2T4 là người giúp sức tích cực, cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.

Hành vi của Lê Hoàng T, Nguyễn Minh T2Nguyễn Ngọc Anh T4 là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến tính mạng sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ; các bị cáo dùng dao tự chế là hun khí nguy hiểm chém nhiều nhát từ trên xuống khi anh D đang tư thế té ngã không tự vệ được nên dùng tay đở nếu không sẽ trúng vào vùng đầu là dùng trọng yếu, gây chết người, nên phải xử bị cáo mức án thật nghiêm mới đủ tính răn đe và phòng ngừa.

[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

+ Tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

+ Tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo thành khẩn, ăn năn hối cải; các bị cáo đầu thú; có phần lỗi của bị hại; các bị cáo T tác động gia đình bồi thường 22.000.000 đồng; bị cáo T2 tác động gia đình bồi thường 44.000.000 đồng và bị có T4 tác động gia đình bồi thường 20.000.000 đồng là các tình giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo T2T4 khi phạm tội dưới 18 tuổi áp dụng Điều 90 và 91 Bộ luật Hình sự để xử lý đối với 02 bị cáo.

Các bị cáo T, T2T4 phạm tội chưa đạt áp dụng theo Điều 15; 57 Bộ luật Hình sự xử lý đối với các bị cáo.

Trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị hại D yêu cầu các bị cáo bồi thường tiền điều trị vết thương, tiền mất thu nhập trong lúc nằm viện và sau khi xuất viện 08 tháng với tổng số tiền 122.838.000 đồng. Anh D thừa nhận đã nhận số tiền của gia đình các bị cáo tổng cộng 86.000.000 đồng; các bị cáo T, T2T4 còn phải liên đới bồi thường tiếp số tiền 36.838.000 đồng.

Sau khi xuất viện đến nay anh D cũng chưa bình phục còn phải dưỡng thương, yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tiền mất thu nhập 06 tháng tiếp theo, mỗi tháng 15.000.000 đồng, xét yêu cầu có căn cứ nên chấp nhận; các bị cáo T, T2T4 liên đới bồi thường số tiền 90.000.000 đồng.

Tổng cộng 02 khoảng là 126.838.000 đồng, mỗi bị cáo phải chịu 1/3 số tiền là 42.279.000 đồng (có làm tròn số).

Không chấp nhận yêu cầu bị hại D yêu cầu tiền tổn thất tinh thần là 210.000.000 đồng.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - 01 (một) cây dao chiều dài tổng thể 46cm, phần cán dài 16cm bằng gỗ màu vàng, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, phần rộng nhất 05cm, dày 04mm, trọng lượng 400gram, phần lưỡi nhọn về phía mũi (đã qua sử dụng).
  • - 02 (hai) cây dao, mỗi cây chiều dài 46cm, phần cán ốp gỗ màu đỏ dài 18cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 46cm, phần rộng nhất 5,5cm, dày 02mm, trọng lượng 500gram, phần lưỡi nhọn về phía mũi (đã qua sử dụng).
  • - 02 (hai) vỏ dao màu đen bằng vải, mỗi vỏ dao kích thước 47cm, rộng 08cm(đã qua sử dụng).

[6] Về án phí: Bị cáo T, T2, T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và mỗi bị cáo phải chịu 2.114.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng T; bị cáo Nguyễn Minh T2 và bị cáo Nguyễn Ngọc Anh T4 phạm tội “Giết người”.

    Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 15; Điều 57 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Lê Hoàng T: 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/7/2022.

    Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 102; Điều 15; Điều 57 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T2: 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/7/2022.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Anh T4: 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/7/2022.

  2. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 590 của Bộ luật Dân sự;

    Buộc các bị cáo T, T2T4 liên đới bồi thường cho anh Danh số tiền các khoảng là 126.838.000 đồng, mỗi bị cáo phải chịu 1/3 số tiền là 42.279.000 (bốn mươi hai triệu, hai trăm bảy mươi chin ngàn) đồng (có làm tròn số).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 và 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - 01 (một) cây dao chiều dài tổng thể 46cm, phần cán dài 16cm bằng gỗ màu vàng, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, phần rộng nhất 05cm, dày 04mm, trọng lượng 400gram, phần lưỡi nhọn về phía mũi (đã qua sử dụng).
    • - 02 (hai) cây dao, mỗi cây chiều dài 46cm, phần cán ốp gỗ màu đỏ dài 18cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 46cm, phần rộng nhất 5,5cm, dày 02mm, trọng lượng 500gram, phần lưỡi nhọn về phía mũi (đã qua sử dụng).
    • - 02 (hai) vỏ dao màu đen bằng vải, mỗi vỏ dao kích thước 47cm, rộng 08cm(đã qua sử dụng).
  4. Án phí: Bị cáo T, T2, T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và mỗi bị cáo phải chịu 2.114.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. HCM;
  • - VKSNDCC tại TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VP. CQCSĐT CA tỉnh;
  • - Phòng PC 06 CA tỉnh TN;
  • - Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Trại tạm giam;
  • - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án HSST.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hồ Văn Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/TLST-HS-CTN ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về giết người

  • Số bản án: 04/2024/TLST-HS-CTN
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo dùng dao chém vào vùng nguy hiểm của bị hại
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger