Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG

TỈNH LONG AN

Bản án số: 06/2024/HS-ST

Ngày: 03-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Lên;
  2. Ông Phan Văn Truyện.

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Công – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Thanh P; tên gọi khác: P đen; sinh ngày: 01/01/1980; tại huyện M, tỉnh Long An; nơi thường trú, nơi ở hiện nay: Ấp A, xã T, thị xã K, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C, sinh năm: 1930 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1932 (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1983; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại xét xử. “có mặt”

Bị hại: Ông Trương Văn N, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp A, xã T, thị xã K, tỉnh Long An. “có mặt”

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trương Tấn Đ, sinh năm 2000; “vắng mặt”
  2. Ông Lê Hữu B, sinh năm 2002; “có mặt”
  3. Ông Lê Hữu V, sinh năm 2006; “vắng mặt”

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.

2

Người làm chứng:

  1. Ông Lê Long H, sinh năm 2000; “có mặt”
  2. Ông Lê Thành T1, sinh năm 1975; “vắng mặt”
  3. Ông Trần Văn C1, sinh năm 1970; “vắng mặt”
  4. Bà Lê Thị T2, sinh năm 1976; “vắng mặt”

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27/6/2023 tại nhà Lê Thanh P, sinh ngày: 01/01/1980, tại Ấp A, xã T, thị xã K, tỉnh Long An tổ chức uống rượu gồm có Lê Hữu B (con ruột của P) và Lê Long H, sinh năm: 2000, ngụ cùng ấp. Cùng thời gian này, tại nhà ông Lê Thành T1, sinh năm: 1975 ngụ cùng ấp cũng tổ chức uống rượu với ông Trương Văn N, sinh năm: 1976, hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã T, thị xã K, tỉnh Long An, bà Lê Thị T2 (vợ ông N) và vợ chồng ông Trần Văn C1. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày ông N cùng vợ bà Lê Thị T2 ra về, khi đi ngang nhà ông Lê Thanh P thì ông P bước ra trước cửa có nói câu “Nhìn mặt mày không thấy ưa rồi”, ông P ám chỉ nói ông N. Sau đó giữa ông P và N xảy ra cự cãi và đánh nhau, ông P có cầm 01 cây dao dài 40cm, cán dao bằng gỗ để hù dọa ông N chứ không gây thương tích đối với ông N. Lúc này Lê Hữu V (con ruột của P) từ nhà chạy ra ngoài lộ thì bị ông N đánh và được mọi người can ngăn. Sau đó, vợ chồng ông N đi về nhà, khoảng 05 phút sau thì ông N cùng với người con tên Trương Tấn Đ, sinh năm: 2000 chạy xe mô tô lại nhà ông P. Tại sân trước nhà của ông P, thì ông N vào đánh V (con ruột của P), thấy V bị đánh ông P lấy một con dao bằng kim loại từ trong vách nhà đi ra ngoài đâm ông Trương Văn N một nhát trúng vùng hạ vị bên trái của ông N, ông Đ có nhặt một thanh gỗ đánh V nhưng được Lê Long H đỡ cho V và giật lấy thanh gỗ bỏ đi, sau đó, được mọi người can ngăn, N và Đ ra về, khi về đến nhà ông N mới phát hiện mình bị đâm chảy máu, nên Đ chở N đến Trạm y tế. Khi chạy ngang nhà của P, N xuống xe tiếp tục chưởi P rồi mới đi Trạm y tế chữa trị vết thương.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 268/KLTTCT.TTPY ngày 24/8/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận Trương Văn N như sau: 1. Các kết quả chính: 01 sẹo vết thương vùng hạ vị bên trái kích thước nhỏ. 2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Văn N tại thời điểm giám định là 01 % (Một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 9454/KLGĐ ngày 27/12/2023 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực thành phố H kết luận Lê

3

Thanh P như sau: 1.1. Về y học: Trước, trong và sau khi phạm tội đối tượng Lê Thanh P có rối loạn cảm xúc thực tổn/Viên gan B (F06.3/B18-ICD10); 1.2. Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong và sau khi phạm tội đối tượng Lê Thanh P hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Tang vật tạm giữ: 01 con dao bằng kim loại cán màu vàng dài 21,5cm: phần lưỡi dao dài 11,5cm, cán dao dài 10cm; 01 thanh kim loại hình hộp có kích thước (115x3)cm; 01 thanh gỗ có kích thước (124x2,5)cm; 01 con dao dài 40cm: cán dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao dài 28cm; 01 quần sọt vải Kaki màu đen hiệu Hollister.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 05/9/2023 bị cáo P và bị hại Nhớ thống nhất thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 11.695.630 đồng xong. Ông N đã nhận đủ tiền và vẫn yêu cầu xử lý hình sự đối với P.

Tại Bản cáo trạng số: 07/CT-VKSKT ngày 21/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường truy tố bị cáo Lê Thanh P về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo P không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo P được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, i, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là “Tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra, bị cáo P có cha và mẹ là người có công cách mạng; có 01 người con bị bệnh khuyết tật về trí tuệ là tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị hại N không rút lại yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo P.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và trình bày luận tội đối với bị cáo P. Sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra; đồng thời căn cứ vào nhân thân, nơi cư trú của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b, i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 36 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo P từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo về UBND xã T giám sát, giáo dục. Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị không khấu trừ thu nhập và không xem xét hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Cho tịch thu tiêu huỷ 01 con dao bằng kim loại cán màu vàng dài 21,5cm: phần lưỡi dao dài 11,5cm, cán dao dài 10cm; 01 thanh kim loại hình hộp có kích thước (115x3)cm; 01 thanh gỗ có kích thước (124x2,5)cm; 01 con

4

dao dài 40cm: cán dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao dài 28cm và 01 quần sọt vải Kaki màu đen hiệu Hollister do bị hại không nhận lại và không còn giá trị sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị hại N đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo P theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Bị cáo P hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; bị cáo không tranh luận và không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định pháp luật.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Trương Tấn Đ, Lê Hữu V và những người làm chứng gồm: Lê Thành T1, Trần Văn C1, Lê Thị T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấy việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại Nhớ được quy định tại khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị hại không rút yêu cầu khởi tố nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[4] Lời khai nhận tội của bị cáo P phù hợp với lời khai tại Công an xã T, Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng và phù hợp với kết luận giám định pháp y tổn thương cơ thể, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với nội dung cáo trạng. Từ đó thấy, khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 27/6/2023, tại nhà Lê Thanh P, thuộc ấp A, xã T, thị xã K, tỉnh Long An. Do có xảy ra cự cãi, xô xát giữa Trương Tấn Đ, Trương Văn N và Lê Hữu V và P thấy N đánh V (con ruột của P) nên P dùng 01 con dao bằng kim loại cán màu vàng dài 21,5cm là hung khí nguy hiểm đâm 01 cái trúng vào vùng hạ vị bên trái của N gây tỷ lệ thương tích là 01%. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo P phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát

5

truy tố bị cáo P với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[5] Xét thấy, hành vi trái pháp luật của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; hành vi này không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo P có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là sẽ gây nguy hiểm đến sức khỏe cho người khác và thấy trước hậu quả của hành vi là sẽ gây thương tích cho bị hại; nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp và để cho hậu quả xảy ra. Do đó cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo P có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình. Ngoài ra, bị cáo có cha và mẹ là người có công cách mạng; có 01 người con bị bệnh khuyết tật về trí tuệ; hành vi phạm tội của bị cáo có một phần do lỗi của bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm điểm b, i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy, bị cáo P phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích và thực hiện phòng ngừa chung cho xã hội. Cho nên, đề nghị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo P có thu nhập không ổn định và đang nuôi 01 con bị bệnh khuyết tật về trí tuệ nên được miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng.

[10] Về tang vật chứng vụ án gồm: 01 con dao bằng kim loại cán màu vàng dài 21,5cm: phần lưỡi dao dài 11,5cm, cán dao dài 10cm; 01 thanh kim loại hình hộp có kích thước (115x3)cm; 01 thanh gỗ có kích thước (124x2,5)cm; 01 con dao dài 40cm: cán dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao dài 28cm; 01 quần sọt vải Kaki màu đen hiệu Hollister là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong và bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[12] Về án phí: Bị cáo P phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

6

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[2] Về hình phạt: Căn cứ vào điểm b, i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh P 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã K giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

[3] Về khấu trừ thu nhập: Căn cứ vào khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017.

Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo Lê Thanh P.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại cán màu vàng dài 21,5cm: phần lưỡi dao dài 11,5cm, cán dao dài 10cm; 01 thanh kim loại hình hộp có kích thước (115x3)cm; 01 thanh gỗ có kích thước (124x2,5)cm; 01 con dao dài 40cm: cán dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao dài 28cm; 01 quần sọt vải Kaki màu đen hiệu Hollister.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng hồi 15 giờ 00 phút, ngày 26/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An)

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc Lê Thanh P nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

7

[7] Về hướng dẫn thi hành án dân sự:

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Truyện

Nguyễn Văn Phương

Nguyễn Văn Lên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 06/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh P phạm tội "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger