|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN- TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:06/2024/HS-ST Ngày 23-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Nguyễn Phú Duy |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Phạm Thanh Sơn |
| Bà Nguyễn Thị Mai Thu |
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiển –Thư ký Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Lương Minh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Vũ Thị Huyền T –Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 02-7-1992 tại Yên Bái; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái; Nơi ở hiện nay: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H, sinh năm 1973 và con bà Vũ Thị T1, sinh năm 1976; Chồng: Lê Việt L, sinh năm 1986; Con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2021). Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 31-8-2023 đến nay. Có mặt tại phiên toà.
2. Lê Việt L – Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14-9-1986 tại Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái; Nơi ở hiện nay: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức T2 (đã chết) và con bà Trần Thị P, sinh năm 1967; Vợ: Vũ Thị Huyền T, sinh năm 1992; Con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2021). Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31-8-2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Y. Có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
- - Chị Hà Thị G, sinh năm 1983. Có mặt
Trú tại: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái. - - Anh Trần Đức H1, sinh năm 1987. Có mặt
Trú tại: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái - - Ông Vũ Cộng S, sinh năm 1966. Có mặt
Trú tại: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái - - Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1984. Có mặt
Trú tại: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Công ty Cổ phần K
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Anh T3 – Chức vụ: Tổng Giám đốc
Địa chỉ trụ sở: Phòng 206, tầng M, tòa nhà N, số B N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Vũ Đức T4 – Quản lý Công ty Cổ phần K- Chi nhánh phường Đ. Có mặt
Trú tại: Tổ G, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
- - Bà Trần Thị P, sinh năm 1967. Có mặt
Trú tại: Tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dụng vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/7/2018, vợ chồng Vũ Thị Huyền T - Lê Việt L đến Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 - Chi nhánh tỉnh Y (sau đây gọi là Ngân hàng) vay số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), thời hạn vay là 84 tháng và đã thế chấp chiếc xe ô tô tô nhãn hiệu ACCENT, BKS: 21A-059.47, (giấy chứng nhận đăng ký xe số 010861 mang tên Lê Việt L) là tài sản của Vũ Thị Huyền T - Lê Việt L. Theo thỏa thuận, Ngân hàng giữ giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và giao lại xe ô tô cho vợ chồng T, L quản lý, sử dụng. Đến đầu năm 2022, do cần tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân nên Vũ Thị Huyền T đã nảy sinh ý định làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đang thế chấp tại ngân hàng để tiếp tục thế chấp vay tiền của người khác. T tự lên mạng xã hội tìm, liên hệ với tài khoản zalo có tên "Phong N" và thuê người này làm giả giấy chứng nhận đăng ký của chiếc xe ô tô ACCENT, BKS: 21A-059.47 với giá 2.000.000 đồng/01 giấy. Hình thức thanh toán thông qua người giao hàng. Trong năm 2022, T đã 04 (bốn) lần thuê và nhận giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả từ người này qua nhân viên giao hàng của Công ty Cổ phần Đ2 và từ nhân viên giao hàng. Sau khi có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả Vũ Thị Huyền T và Lê Việt L đã sử dụng để thế chấp vay tiền của nhiều người, cụ thể như sau:
Vào ngày 26-01-2022, Vũ Thị Huyền T đã chủ động hỏi vay tiền và đề nghị giao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô của gia đình để bảo đảm khoản vay với chị Hà Thị G - sinh năm 1983, nơi cư trú: Thôn K, xã H, T, Yên Bái, chị G đồng ý và chuyển khoản trước cho T số tiền 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng). Đến ngày 27/01/2022, chị G trực tiếp mang 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) tiền mặt đến quán của T cho T vay, tại đây T đã viết giấy vay tiền với tổng số tiền là 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng) và trực tiếp giao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả đã thuê làm trước đó cho chị G. Hai bên thảo thuận lãi xuất là 1,5%/tháng, hẹn khi nào cần thì chị G sẽ thông báo trước 1-2 tháng để T thu xếp. Từ giữa năm 2022, chị G đã nhiều lần liên lạc để đòi tiền nhưng đến nay T vẫn chưa trả được số tiền trên.
Ngày 01-6-2022, Vũ Thị Huyền Trang chủ đ đề nghị và trực tiếp giao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả đã thuê làm trước đó để vay của anh Trần Đức H1 - Sinh năm 1987, nơi cư trú: Thôn L, xã H, T, Yên Bái số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), lãi suất thoả thuận 5%/tháng, không thoả thuận về thời hạn vay. Đến nay T vẫn chưa trả được số tiền trên.
Ngày 05-7-2022, Vũ Thị Huyền T nói với Lê Việt L về việc đã làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô của gia đình, mục đích sử dụng thế chấp để vay tiền, L đồng ý và cùng T đến nhà ông Vũ Công S1 - sinh năm 1966, nơi cư trú: Thôn L, xã H, T, Yên Bái. Tại đây, T và L vay được số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng), lãi suất thoả thuận 1,5%/1 tháng, thời hạn vay 06 tháng. Để tạo niềm tin T và L giao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả cho ông S1 đồng thời viết giấy bán xe. Hai bên thỏa thuận trong thời hạn 06 tháng thì Trang L1 phải trả lại tổng số tiền lần này và những lần trước đã vay là 150.000.000₫ đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), nếu đến hạn mà không trả thì ông S1 sẽ đưa thêm cho T, L1 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng) và T, L1 sẽ chuyển nhượng xe ô tô cho ông S1. Đến nay T và L1 vẫn chưa trả được số tiền trên.
Đến ngày 30-8-2022, Vũ Thị Huyền T cùng Lê Việt L đến Ngân hàng trả tiền gốc, lãi để tất toán hợp đồng vay từ ngày 03-7-2018 và được Ngân hàng trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô. Ngay sau đó, ngày 31-8-2022, T và L đến Công ty Cổ phần K - Chi nhánh phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái ký kết hợp đồng tín dụng và cầm cổ chiếc xe ô tô nói trên từ ngày 31-8-2022, sau đó đã gia hạn vay đến 25-5-2024. Công ty Cổ phần K chỉ giữ đăng ký xe, còn xe ô tô giao lại cho vợ chồng T, L quản lý, sử dụng.
Đến ngày 09-9-2022, khi hợp đồng cầm cố tài sản để vay tiền tại Công ty Cổ phần K đang còn hiệu lực thì Vũ Thị Huyền T tiếp tục cùng Lê Việt L đến gặp trực tiếp và giao chiếc xe ô tô HUYNDAI ACCENT, BKS: 21A-059.47 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả cho anh Phạm Văn Đ - sinh năm
1984, nơi cư trú: Thôn T, xã H, T, Yên Bái để vay số tiền 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng).
Sau đó, trong các ngày 14-9-2022 và 10-10-2022, T lấy lý do đã giao xe và giấy chứng nhận đăng ký xe cho anh Đ chiếc xe ô tô để vay thêm của anh Đ lần lượt là 30.000.000 đồng và 55.000.000 đồng, tổng số tiền là 85.000.000 đồng (T5 mươi lăm triệu đồng) nhưng không trao đổi thống nhất trước với Lê Việt L. Lãi suất thoả thuận vay là 1,3%/ tháng, thời hạn vay 01 (Một) tháng. Sau nhiều lần anh Đ liên hệ đòi tiền nhưng đến nay vợ chồng T, L vẫn chưa trả được toàn bộ số tiền đã vay cho anh Đ.
Đến tháng 4-2023, do nghi ngờ giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mà T sử dụng để vay tiền là giả, anh Trần Đức H1 và chị Hà Thị G đã có đơn tố giác tội phạm. Quá trình kiểm tra xác minh, Cơ quan điều tra đã thu giữ tổng số 04 (Bốn) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do các bị hại giao nộp và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe do Công ty Cổ phần K - Chi nhánh phường Đ cung cấp. Các giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đều mang số 010861, cấp ngày 03-7-2018, ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại ACCENT, BKS: 21A-059.47 mang tên Lê Việt L.
Các Bản kết luận giám định số 346/KL-KTHS ngày 21/6/2023, số 460/KL-KTHS ngày 10/8/2023, số 469/KL-KTHS ngày 24/8/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Y đã kết luận Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Công ty Cổ phần K cung cấp là thật, 04 Giấy chứng nhận do các bị hại cung cấp đều là giả.
Quá trình điều tra xác định tổng số tiền mà Vũ Thị Huyền T đã 04 (Bốn) lần sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe tô giả để vay tiền của chị Hà Thị G, anh Trần Đức H1, ông Vũ Công S1 và anh Phạm Văn Đ là 485.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi lăm triệu đồng). Trong đó, Lê Việt L tham gia cùng Vũ Thị Huyền T 02 (Hai) lần với tổng số tiền là 210.000.000 đồng (Hai trăm mười triệu đồng).
Vật chứng, tài sản bị thu giữ bao gồm: 01 (một) xe ô tô, loại xe 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu HUYNDAI, số loại ACCENT, màu sơn bạc, biển kiểm soát 21A-059.47, xe đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 010861, loại xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại ACCENT, biển kiểm soát 21A-059.47, tên chủ xe Lê Việt L, do phòng C Công an tỉnh Y cấp ngày 03-7-2018 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 pro max, màu xanh, đã qua sử dụng.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Thị Huyền T, Lê Việt L thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Cáo trạng số 07/CT-VKSTY ngày 29-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái truy tố Vũ Thị Huyền T, Lê Việt L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bà Trần Thị P đã bồi thường cho ông Vũ Công S1 20.000.000 đồng và bồi thường cho anh Phạm Văn Đ số tiền 30.000.000 đồng thay cho Lê Việt L và Vũ Thị Huyền T; Vũ Thị Huyền T đã nộp số tiền 10.000.000 đồng cho Chi cục thi hành án dân sự để bồi thường thiệt hại.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị Huyền T và Lê Việt L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Về hình phạt:
- Đối với bị cáo Vũ Thị Huyền T
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị Huyền T từ 09 (chín) năm tù đến 10 (mười) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị Huyền T từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Vũ Thị Huyền T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội.
- Đối với bị cáo Lê Việt L:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Việt L từ 05 (năm) năm tù đến 06 (sáu) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Việt L từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Việt L phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội.
Về vật chứng, tài sản thu giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước điện thoại nhãn hiệu IPHONE 11 Pro max màu xanh, đã qua sử dụng.
- - Trả lại Công ty Cổ phần K (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 010861, loại xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại ACCENT, biển kiểm soát
21A-059.47, tên chủ xe Lê Việt L, do phòng C Công an tỉnh Y cấp ngày 03-7-2018.
- Trả lại cho các bị cáo: 01 (một) xe ô tô, loại xe 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu HUYNDAI, số loại ACCENT, màu sơn bạc, biển kiểm soát 21A-059.47, xe đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo phải trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại, được khấu trừ số tiền đã bồi thường trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị hại yêu cầu các bị cáo phải trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt.
Đại diện Công ty Cổ phần K đề nghị được nhận lại 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 010861, loại xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại ACCENT, biển kiểm soát 21A-059.47, tên chủ xe Lê Việt L, do phòng C Công an tỉnh Y cấp ngày 03-7-2018
Bà Trần Thị P không yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã bồi thường thay cho các bị cáo.
Các bị cáo khai báo thành khẩn, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để các bị cáo sớm được trở về với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những bị hại và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền tiêu xài và trả nợ nên trong khoảng thời gian từ tháng 01-2022 đến ngày 10-10-2022, Vũ Thị Huyền T đã 04 (bốn) lần thuê làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, loại ACCENT, biển kiểm soát 21A-059.47 mang tên
Lê Việt L và đã cùng Lê Việt L sử dụng giấy chứng nhận đăng ký giả này gặp nhiều người và nói dối là giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô thật để thế chấp vay tiền của họ. Do tin tưởng nên các bị hại đã giao tiền cho các bị cáo T và L, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 26-01-2022, Vũ Thị Huyền T giao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để vay tiền của chị Hà Thị G, chị G chuyển khoản trước cho T số tiền 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng). Đến ngày 27-01-2022, chị G trực tiếp mang 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) tiền mặt đến quán của T cho T vay.
Lần thứ hai: Ngày 01-6-2022, Vũ Thị Huyền Trang chủ đ đề nghị và trực tiếp giao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để vay của anh Trần Đức H1 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Lần thứ ba: Đến ngày 05-7-2022, Vũ Thị Huyền Trang T đã cùng Lê Việt L giao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả cho ông S1 để vay số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng).
Lần thứ tư: Ngày 09-9-2022, Vũ Thị Huyền T tiếp tục cùng Lê Việt L đến gặp trực tiếp và giao chiếc xe ô tô ACCENT, BKS: 21A-059.47 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để thế chấp và vay của anh Phạm Văn Đ số tiền 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng)
Tiếp sau đó, trong các ngày 14-9-2022 và 10-10-2022, T lấy lý do đã thế chấp cho anh Đ chiếc xe ô tô để vay thêm của anh Đ lần lượt là 30.000.000 đồng và 55.000.000 đồng, tổng số tiền là 85.000.000 đồng (T5 mươi lăm triệu đồng).
Như vậy tổng số tiền các bị cáo đã chiếm đoạt của những người nêu trên là 485.000.000 đồng, trong đó bị cáo Lê Việt L tham gia chiếm đoạt số tiền 210.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Vũ Thị Huyền T và Lê Việt L đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Đây là tội phạm rất nhiêm trọng.
Các bị cáo đã sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để chiếm đoạt số tiền rất lớn, phạm vào tội rất nghiêm trọng nên hành vi nêu trên của các bị cáo Vũ Thị Huyền T và Lê Việt L đã phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội cũng như vai trò của các bị cáo:
[3.1] Đây là vụ án rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, bình thường của cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính và xâm phạm
quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, là một trong các quyền quan trọng được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức đưa thông tin gian dối để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên cần phải xử lý nghiêm.
[3.2] Đây là vụ án có đồng phạm nhưng không có tổ chức, các bị cáo đều là người thực hành tuy nhiên mức độ tham gia vào tội phạm của các bị cáo là khác nhau, trong đó bị cáo Vũ Thị Huyền T là người chủ động đặt làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô. Sau khi có giấy chứng nhận xe ô tô giả, đã rủ Lê Việt L thế chấp vay tiền của nhiều người và đã chiếm đoạt được tổng số 485.000.000 đồng, tuy nhiên bị cáo L chỉ tham gia cùng bị cáo Vũ Thị Huyền T chiếm đoạt số tiền 210.000.000 đồng. Do đó xác định bị cáo Vũ Thị Huyền T có vai trò chính trong vụ án.
[3.3] Đối với những lần bị cáo Vũ Thị Huyền T vay tiền của anh Phạm Văn Đ vào các ngày 14-9-2022 và ngày 10-10-2022, bị cáo T đều lấy lý do đã thế chấp xe và giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô cho anh Phạm Văn Đ1, hai lần vay tiền này lần lượt là 30.000.000 đồng và 55.000.000 đồng, do đó phải xác định bị cáo T đã 06 (sáu) lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Vũ Thị Huyền T đã 04 lần sử dụng giấy chứng nhận xe ô tô giả, trong đó có 02 (hai) lần cùng Lê Việt L sử dụng; 06 (sáu) lần chiếm đoạt tài sản, trong đó có 02 (hai) lần cùng Lê Việt L chiếm đoạt tài sản và đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự cho cả hai tội.
Mặc dù đã thực hiện 06 (sáu) lần chiếm đoạt tài sản nhưng bị cáo Vũ Thị Huyền T vẫn có công việc, chồng bị cáo là bị cáo Lê Việt L vẫn đang công tác, có thu nhập ổn định, bị cáo T không lấy kết quả của những lần phạm tội làm nguồn sống chính nên không coi là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho cả hai tội.
Trong giai đoạn Tòa án chuẩn bị xét xử, các bị cáo đã tác động đến gia đình nộp lại được 50.000.000 đồng cho anh Phạm Văn Đ và ông Vũ Công S1, bị cáo Vũ Thị Huyền T đã nộp cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Trấn Yên số tiền 10.000.000 đồng bồi thường, khắc phục hậu quả nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên chỉ áp dụng tình tiết này cho tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Quá trình công tác, bị cáo Lê Việt L có thành tích xuất sắc (được tặng thưởng Huy chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Ba), có bố đẻ là ông Lê Đức T2 được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho cả hai tội.
[5] Về quyết định hình phạt:
[5.1] Các bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội rất nghiêm trọng. Mặc dù đã tác động đến gia đình khắc phục được số tiền 50.000.000 đồng, bị cáo T khắc phục được thêm 10.000.000 đồng nhưng số tiền này không đáng kể so với số tiền các bị cáo đã chiếm đoạt, do đó cần phải cân nhắc khi quyết định hình phạt.
[5.2] Đối với bị cáo Vũ Thị Huyền T có vài trò chính, nhiều lần sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả, nhiều lần chiếm đoạt tài sản, với số lượng lớn, lại có ít tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự so với bị cáo Lê Việt L nên phải cần có hình phạt nghiêm khắc, cao hơn bị cáo Lê Việt L, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo được bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[5.3] Đối với bị cáo Lê Việt L có vai trò thấp hơn bị cáo Vũ Thị Huyền T, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, số tiền chiếm đoạt cùng bị cáo T là 210.000.000 đồng, gần mức đầu khung hình phạt, có 02 lần sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả.
Xét thấy, bị cáo L có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng cho tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngoài ra trong vụ án này, bị cáo Vũ Thị Huyền T là vợ của bị cáo, các bị cáo đang phải nuôi hai con nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Việt L dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho tội “Lừa đào chiếm đoạt tài sản”. Đối với tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức”, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo sớm được trở về với xã hội, nuôi dạy con cái, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T hiện là lao động tự do và đã từng là bị hại trong một vụ án cho vay lãi nặng, bị cáo L đang bị tạm giam, không có thu nhập, số tiền phải khắc phục lớn, các bị cáo lại đang nợ tiền nhiều người, đều bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn lại có hai con nhỏ đang độ tuổi ăn học, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã chiếm đoạt số tiền của các bị hại, do đó yêu cầu bồi thường của các bị hại là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 589 Bộ luật dân sự nên cần được chấp nhận, tuy nhiên cần khấu trừ số tiền người thân các bị cáo và số tiền bị cáo Vũ Thị Huyền T đã giao nộp.
Xét thấy, bị cáo L đồng phạm với bị cáo T chiếm đoạt số tiền 210.000.000 đồng, số tiền 275.000.000 đồng còn lại là một mình T chiếm đoạt nên bị cáo L và bị cáo T phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường số tiền 210.000.000 đồng cho các bị hại, theo tỉ lệ ngang nhau; bị cáo T có trách nhiệm bồi thường số tiền 275.000.000 đồng cho các bị hại.
Từ những phân tích nêu trên, cần buộc bị cáo Vũ Thị Huyền T và bị cáo Lê Việt L phải liên đới bồi thường cho ông Vũ Công S1 số tiền 50.000.000 đồng, mỗi bị cáo 25.000.000 đồng; liên đới bồi thường cho anh Phạm Văn Đ số tiền 110.000.000 đồng, mỗi bị cáo 55.000.000 đồng; bị cáo Vũ Thị Huyền T phải bồi thường cho chị Hà Thị G 155.000.000 đồng, bồi thường cho anh Trần Đức H1 25.000.000 đồng và bồi thường cho anh Phạm Văn Đ 85.000.000 đồng
[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với chiếc xe ô tô HUYNDAI ACCENT, biển kiểm soát 21A-059.47. Mặc dù các bị cáo đã giao xe cho anh Phạm Văn Đ nhưng tài sản trên các bị cáo đã cầm cố cho Công ty Cổ phần K trước đó (vẫn còn hiệu lực) và khi thế chấp cho anh Phạm Văn Đ, các bị cáo cũng không nói cho anh Phạm Văn Đ cũng như không nói cho Công ty Cổ phần K biết. Khi cầm cố tài sản, công ty K đã giao xe lại cho các bị cáo quản lý, sử dụng do đó các bị cáo vẫn là người chiếm hữu hợp pháp nên cần trả lại cho các bị cáo.
Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Công ty Cổ phần kình doanh F88 giao nộp, cần trả lại cho Công ty Cổ phần K.
Đối với 01 chiếc điện thoại: Bị cáo T sử dụng để liên lạc thỏa thuận việc giao giấy tờ giả để vay tiền nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
[8] Đối với số tiền bà Nguyễn Thị P1 đã bồi thường thay cho các bị cáo, bà P1 không yêu cầu các bị cáo phải trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà P1 có thể khởi kiện bằng một vụ án khác.
[9] Đối với hành vi cho vay với lãi suất 5%/tháng của anh Trần Đức H1 vượt quá quy định của pháp luật nhưng chưa đến mức xử lý về hình sự nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T đã xử phạt vi phạm hành chính theo quyết định số 1437/QĐ-XPHC ngày 04/5/2023 đối với anh Trần Đức H1 là phù hợp
[10] Đối với người đã làm giả giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô cho Vũ Thị Huyền T. T không biết tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại liên lạc của chủ tài khoản zalo "Phong N" và của những nhân viên đến giao hàng. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra, xác minh nhưng không đủ căn cứ để làm rõ nhân thân, lai lịch của người đã làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô cho T nên không đề cập xử lý là phù hợp.
[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần trách nhiệm dân sự còn phải thực hiện.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị Huyền T và Lê Việt L phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
2. Về hình phạt:
2.1. Đối với bị cáo Vũ Thị Huyền T
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị Huyền T 09 (chín) năm tù.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị Huyền T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Vũ Thị Huyền T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2.2. Đối với bị cáo Lê Việt L:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Việt L 05 (năm) tù
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Việt L 03 (ba) năm tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Việt L phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo (ngày 31-8-2023).
3. Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước điện thoại nhãn hiệu IPHONE 11 Pro max màu xanh, đã qua sử dụng
- - Trả lại Công ty Cổ phần K (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 010861, loại xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại ACCENT, biển kiểm soát 21A-059.47, tên chủ xe Lê Việt L, do phòng C Công an tỉnh Y cấp ngày 03-7-2018
- - Trả lại cho các bị cáo: 01 (một) xe ô tô, loại xe 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu HUYNDAI, số loại ACCENT, màu sơn bạc, biển kiểm soát 21A-059.47, xe đã qua sử dụng.
4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587; Điều 589 Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo Vũ Thị Huyền T và bị cáo Lê Việt L liên đới bồi thường cho ông Vũ Công S1 số tiền 50.000.000 đồng, mỗi bị cáo 25.000.000 đồng; liên đới bồi thường cho anh Phạm Văn Đ số tiền 110.000.000 đồng, mỗi bị cáo 55.000.000 đồng;
Buộc bị cáo Vũ Thị Huyền T bồi thường cho chị Hà Thị G số tiền 155.000.000 đồng; bồi thường cho anh Trần Đức H1 số tiền 25.000.000 đồng và bồi thường cho anh Phạm Văn Đ số tiền 85.000.000 đồng.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không trả hết số tiền kể trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Vũ Thị Huyền T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 17.250.000 đồng (mười bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Việt L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phú Duy |
Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI về hình sự: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 06/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vũ Thị Huyền T và Lê Việt L sử dụng tài liệu giả, chiếm đoạt tài sản
