|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH ******** |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ******** |
Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST
Ngày 26-01-2024
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu;
Bà Hoàng Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 160/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị M, sinh năm 2000
Đăng ký HKTT: xã Đông Mỹ, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Địa chỉ hiện nay: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Bị đơn: Anh Bùi Văn M1, sinh năm 1998
Đăng ký HKTT: xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình
Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn - chị Hà Thị M trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn M1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 20/8/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh M1 đi lao động xuất khẩu tại Nhật Bản, vợ chồng chị sống xa nhau, xảy ra nhiều hiểu lầm giữa chị và anh M1 và giữa chị và gia đình nhà chồng. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống. Từ đầu năm 2022 đến nay anh chị sống ly thân, anh M1 cũng không quan tâm đến chị M nên chị M xác định vợ chồng chị không còn tình cảm, không thể hàn gắn, đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh M1.
+Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Bùi Nhật T, sinh ngày 28/3/2018. Hiện nay con chung đang sinh sống cùng bố mẹ anh M1. Do anh M1 đang ở nước ngoài nên chị M có nguyện vọng được nuôi con chung. Chị M không yêu cầu anh M1 cấp dưỡng nuôi con chung.
+Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết anh M1 vắng mặt tại Tòa án và không có văn bản trình bày ý kiến.
Tòa án tiến hành thu thập lời khai của ông Bùi Văn N; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình (là bố đẻ của anh Bùi Văn M1): Ông N trình bày hiện nay anh M1 đang làm việc tại Nhật Bản, ông N không biết địa chỉ cụ thể của anh ở Nhật Bản nên không thể cung cấp cho Tòa án. Anh M1 đã biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án ly hôn giữa anh M1 và chị Hà Thị M, anh M1 đồng ý ly hôn chị M nhưng do công việc bận mải nên anh M1 không về Tòa án làm việc và cũng không viết văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án. Ông N trình bày về quan hệ hôn nhân của chị M và anh M1, ông được biết anh chị đã sống ly thân từ năm 2022, chị M bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, anh M1 sống ở nước ngoài, hai vợ chồng không liên lạc, không quan tâm đến nhau. Chị M và anh M1 có 01 con chung là Bùi Nhật T, sinh năm 2018 hiện nay vợ chồng ông N đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Ông N đề nghị Tòa án giao cháu T cho anh M1 nuôi dưỡng để ông bà tiếp tục nuôi cháu T. Trường hợp chị M muốn nuôi cháu T thì ông N đồng ý nhưng chị M phải có những cam kết với gia đình ông N. Ông N trình bày vợ chồng anh M1 chị M không có tài sản chung và nợ chung, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Hà Thị M được ly hôn anh Bùi Văn M1, giao con Bùi Nhật T, sinh ngày 23/8/2018 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh M1 không phải cấp dưỡng cho con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng chị M có đơn xét xử vắng mặt, anh M1 vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị M và anh Bùi Văn M1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của chị M và của ông N (bố đẻ của anh M1) đều thể hiện vợ chồng anh M1, chị M sống ly thân đã lâu, vợ chồng nhiều mâu thuẫn căng thẳng, không quan tâm đến nhau. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần xử cho chị M ly hôn anh M1 là đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị M và anh M1 có 01 con chung là Bùi Nhật T, sinh ngày 23/8/2018. Mặc dù ông N – bố đẻ của anh M1 trình bày ý kiến có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung nhưng do anh M1 không có ý kiến về việc nuôi con chung. Hiện nay anh M1 đang ở nước ngoài, chị M có nguyện vọng nuôi con chung nên Tòa án cần giao con chung cho chị M nuôi dưỡng là đúng pháp luật. Chị M không yêu cầu anh M1 cấp dưỡng nuôi con chung nên anh M1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị M xác định vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh M1 không có ý kiến trình bày về vấn đề tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung, nợ chung của anh chị trong vụ án này.
[2.4] Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị M được ly hôn anh Bùi Văn M1
- Về nuôi con chung: Xử giao cho chị Hà Thị M trực tiếp nuôi dưỡng con chung Bùi Nhật T, sinh ngày 23/8/2018. Anh M1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Hai bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí:
Chị Hà Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị M nộp tại biên lai số 0000044 ngày 16/11/2023 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt các đương sự. Chị Hà Thị M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ; Anh Bùi Văn M1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn một tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ; .
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Hằng |
Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 26/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 06/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hà Thị M xin ly hôn với anh Bùi Văn M1, có 01 con chung và không có tài sản chung
