Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÀ BẮC

TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04/9/2024

(V/v yêu cầu ly hôn)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HOÀ BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lự.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Trọng Huề

Bà Phạm Thị Dần.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Thanh Tùng, thư ký Toà án nhân dân huyện Đà Bắc

- Đại diện VKSND huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như T - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số:16/2024/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 05 năm 2024, về việc yêu cầu ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 29/7/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2024/QÐST-HNGĐ ngày 14/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thanh H - sinh năm 1999.

    Địa chỉ: xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt

  2. Bị đơn: Anh Xa Văn T1 - sinh năm 1991.

    Địa chỉ: xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt lần hai, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ thu thập trong quá trình giải quyết thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Chị Bùi Thị Thanh H và anh Xa Văn T1 kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 06/05/2021 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Sau khi kết hôn hai bên gia đình có tổ chức cưới, chị H về làm dâu nhà anh T1 tại xóm S, xã C, huyện Đ được khoảng một thời gian ngắn thì vợ chồng mâu thuẫn cãi cọ chửi mắng nhau nguyên nhân là do tính tình không hợp, anh T1 không chịu làm ăn suốt ngày chơi bời liêu lổng. Đến tháng 04 năm 2022 chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ cũng ở tại xóm S, xã C, ở một thời gian sau đó chị đi làm ăn xa, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay không quan tâm gì đến nhau. Chị H thấy tình cảm không còn nên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh T1. Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Không có.

Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án,Tòa án thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ và mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T1 vắng mặt không có lý do, không hợp tác và không có mặt ở Tòa án để giải quyết việc ly hôn. Tòa án đã xác minh anh T1 vẫn có mặt ở tại xóm S, xã C, huyện Đ.

Tòa án đã tiến hành lập biên bản và niêm yết công khai các tài liệu, văn bản theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xác minh tại xóm S và UBND xã C và tống đạt hợp lệ các giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh Xa Văn T1 cố tình không chấp hành và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Tại phiên tòa chị Bùi Thị Thanh H vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu ly hôn anh Xa Văn T1.

*Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc.

-Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định và thời hạn, nội dung thẩm quyền của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình như chấp hành nội quy phiên tòa. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên HĐXX xử vắng mặt anh Xa Văn T1 là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

-Về nội dung: Từ những tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, thấy rằng hôn nhân giữa chị Bùi Thị Thanh H và anh Xa Văn T1 là tự nguyện không ai ép buộc, do đó quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi đăng ký kết hôn anh chị chung sống với nhau hạnh phúc chỉ được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn đến tháng 04 năm 2022, chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh T1 không thể hiện quan điểm của mình về vấn đề ly hôn điều đó chứng tỏ anh T1 không muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do đó đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị Thanh H với anh Xa Văn T1.

- Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: không có. Không giải quyết

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS 2015; Điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, nguyên đơn chị Bùi Thị Thanh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Đề nghị HĐXX tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh luận tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:

    Chị Bùi Thị Thanh H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc giải quyết yêu cầu ly hôn giữa chị và anh Xa Văn T1, anh T1 có hộ khẩu thường trú tại xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Do đó căn cứ tại khoản 1 điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hôn nhân và gia đình yêu cầu giải quyết ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.

    Tòa án triệu tập và thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhưng anh Xa Văn T1 vắng mặt tại Tòa án, nên không thể tiến hành hòa giải được tại Tòa án. Tòa án đã niêm yết các tài liệu giấy tờ theo quy định của pháp luật như bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do HĐXX căn cứ vào các Điều 227, 228 của BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Anh Xa Văn T1 không thực hiện nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70,72 của Bộ luật tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả của việc không giao nộp chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được quy định tại các Điều 91, 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.

  2. [2] Về quan hệ hôn nhân:

    Chị Bùi Thị Thanh H và anh Xa Văn T1 tự kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình từ năm 2021, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống với nhau chỉ được một thời gian ngắn là hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân chính là do tính tình không hợp thường xuyên cãi vã chửi mắng nhau. Đến tháng 04/2022, chị H về nhà mẹ đẻ ở xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình sinh sống và đi làm ăn, từ thời gian đó cho đến nay vợ chồng sống ly thân không quan tâm gì đến nhau, chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn đối với anh T1. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân của chị H và anh T1 tại địa phương nhận thấy có căn cứ chứng minh tình cảm vợ chồng giữa anh chị không còn. Tại phiên toà, anh T1 vắng mặt không có lý do, không thể hiện quan điểm của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị H mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ.

    Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án; lời khai của các bên đương sự; phát biểu của Kiểm sát viên; HĐXX nhận thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Thanh H đối với anh Xa Văn T1 là phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

  3. [3] Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Không có, không giải quyết.
  4. [4] Về án phí: Chị Bùi Thị Thanh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo : Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 BLTTDS.

Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân & gia đình.

Căn cứ Điều 147 BLTTDS, Điều 27 của Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Thanh H. Xử cho chị Bùi Thị Thanh H được ly hôn anh Xa Văn T1.
  2. Về án phí: Chị Bùi Thị Thanh H phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0002635 ngày 02/05/2024 của Chi cục THADS huyện Đ, tỉnh Hoà Bình. Chị H đã nộp đủ án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Đà Bắc;
  • - Chi cục THADS Đà Bắc;- Các đương sự;
  • - UBND xã Cao Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Nguyễn Văn Lự

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HOÀ BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình (ly hôn)

  • Số bản án: 06/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình (Ly hôn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HOÀ BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi THị Thanh H và Xa Văn T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger