Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/01/2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tùng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hễ

Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý 292/2023/TLST-HNGĐ ngày 13/11/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5902/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/12/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1995 (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông H, C - Y, sinh năm 1975 (Có đơn xin vắng mặt)

Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan)

Địa chỉ: D L, Khóm A, phường G, khu L, thành phố C, Đài Loan (Trung Quốc).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện và B tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày: Bà và ông H, C - Ying đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38, do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/5/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng tình cảm vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn. Tuy nhiên về sau thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về tính tình và lối sống khác biệt cũng như công việc, nơi cư trú, tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, do vậy bà trở về Việt Nam, còn ông H, C - Ying ở lại Đài Loan, vì mâu thuẫn vợ chồng ngày một trầm trọng hơn, cả hai không thể hòa giải, hàn gắn được. Nay bà thấy không thể hàn gắn tình cảm, cả hai cũng không còn liên lạc và vợ chồng đã sống ly thân nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H, C - Y.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bà xin được vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.

* Tại Bản tự khai, bị đơn ông H, C - Ying trình bày: Ông đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu T vì hai bên sống xa cách, tình cảm không còn.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Ông xin được vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Thu T và ông H, C - Y1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Thu T và ông H, C - Ying.

Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Thu T và ông H, C - Ying có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38, do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/5/2019 nên là hôn nhân hợp pháp.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Sau khi kết hôn vợ chồng bà T và ông H, C - Ying chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn. Tuy nhiên về sau thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về tính tình và lối sống khác biệt cũng như công việc, nơi cư trú, tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, do vậy bà T trở về Việt Nam, còn ông H, C - Ying ở lại Đài Loan, vì mâu thuẫn vợ chồng ngày một trầm trọng hơn, cả hai không thể hòa giải, hàn gắn được. Nay bà T không thể hàn gắn tình cảm và cả hai cũng không còn liên lạc, bà T và ông H, C - Y đã sống ly thân nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông H, C- Y là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về con chung:

Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về tài sản chung:

Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

[4] Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Thu T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 121 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu T.

  1. Về hôn nhân:
  2. Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông H, C - Y.

  3. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có gì để giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu T chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0004133 ngày 01/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - Cục Thi hành án dân sự TPHCM;
  • - UBND huyện Hóc Môn, TPHCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Tùng Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 06/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà và ông H, C - Ying đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38, do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/5/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng tình cảm vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn. Tuy nhiên về sau thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về tính tình và lối sống khác biệt cũng như công việc, nơi cư trú, tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, do vậy bà trở về Việt Nam, còn ông H, C - Ying ở lại Đài Loan, vì mâu thuẫn vợ chồng ngày một trầm trọng hơn, cả hai không thể hòa giải, hàn gắn được. Nay bà thấy không thể hàn gắn tình cảm, cả hai cũng không còn liên lạc và vợ chồng đã sống ly thân nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H, C - Y
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger