|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2024/DS-ST
Ngày 16 - 9 - 2024
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
và bồi thường thiệt hại về tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Quỳnh.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khoa và ông Phương Ngọc Báu.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20/2023/TLST-DS ngày 20/7/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1967 và bà Nông Thị L, sinh năm 1973. Cùng địa chỉ: Bản Q, P, T, Cao Bằng. (Ông T, bà L có mặt)
- - Bị đơn: Ông Nông Văn T1, sinh năm 1976; địa chỉ: Bản Q, P, T, Cao Bằng. (Có mặt)
- Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Phạm Huy H, địa chỉ: N, B, H, Cao Bằng. Theo giấy uỷ quyền ngày 13/9/2024. (có mặt)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Hoàng Thị C, sinh năm 1980; trú tại phố H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
- + Bà Hoàng Thị K, sinh năm 1970; trú tại xóm P, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
- + Bà Nông Thị L1, sinh năm 1987; địa chỉ: số nhà B, tổ B, phường S, thành phố C, Cao Bằng.
- + Bà Nông Thị L2, sinh năm 1979; địa chỉ: N, Đ, H, Cao Bằng.
- + Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1973; trú tại N, B, H, Cao Bằng.
- + Ông Hoàng Văn N, sinh năm 1976; trú tại tổ E, phường S, thành phố C, Cao Bằng.
- + Bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1968; trú tại xóm Đ, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
- + Bà Hoàng Thị Y, sinh năm 1962; trú tại Bản C, thị trấn T, T, Cao Bằng.
- + Ông Hoàng Văn N2, sinh năm 1974; địa chỉ: Bản Q, P, T, Cao Bằng.
- + Ông Lê Văn N3, sinh năm 1987; địa chỉ: Bản Q, P, T, Cao Bằng.
- + Anh Hoàng Trung T2, sinh năm 1993; địa chỉ: Bản Q, P, T, Cao Bằng.
- + Anh Hoàng Đại S, sinh năm 1994; địa chỉ: Bản Q, P, T, Cao Bằng.
- + Bà Hoàng Thị B, sinh năm 1984; địa chỉ: Bản Q, P, T, Cao Bằng.
- (Bà C, bà K, bà L2, bà Y, ông N2, anh T2, anh S, bà B có mặt tại phiên toà; Bà L1, bà M, ông N, bà N1, ông N3 vắng mặt có lý do)
- - Người làm chứng:
- + Ông Hoàng Văn R, sinh năm 1964; địa chỉ: Bản Q, P, T, Cao Bằng.
- + Ông Lê Văn T3, sinh năm 1976; địa chỉ: Bản Q, P, T, Cao Bằng.
- + Anh Lê Văn T4, sinh năm 1982; địa chỉ: Bản Q, P, T, Cao Bằng.
- + Ông Lê Văn T5, sinh năm 1980; địa chỉ: Bản Q, P, T, Cao Bằng.
- (Những người làm chứng có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/6/2023, ngày 18/7/2023 và các lời khai tiếp theo tại Tòa, nguyên đơn ông T, bà L trình bày:
Gia đình có thửa đất số 379, tờ bản đồ số 1, diện tích 3.536 m² có địa chỉ tại đồi L, xóm B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Nguồn gốc là do ông cha để lại cho bố mẹ ông T và bố mẹ ông T để lại cho ông T từ năm 1980 cho đến nay ông T vẫn quản lý sử dụng liên tục. Đến năm 1996 nhà nước tiến hành kiểm kê cho từng lô rừng trong đó gia đình ông T cũng đã có phiếu kiểm kê cho lô rừng mà ông T đang trực tiếp quản lý, sử dụng để trồng rừng vào năm 1997. Về quá trình quản lý, sử dụng: gia đình vẫn quản lý sử dụng liên tục, trên đất có cây thông do ông T trồng từ năm 1997. Khoảng năm 2003 - 2004, ông Nông Văn T1 là người cùng xóm đặt mộ xuống đất rừng của gia đình ông T, thời điểm đó ông T bị tai nạn giao thông không đi lại được. Khi gia đình biết sự việc thì mộ đã chôn rồi do tình làng nghĩa xóm nên ông T không yêu cầu các cơ quan chức năng giải quyết nữa nhưng đến năm 2019 - 2020 ông T1 lại tiếp tục xây hàng rào bằng gạch, chôn cột bê tông và chặt phá cây thông để lấn chiếm đất của gia đình ông T. Ông T1 gọi lãnh đạo xóm đến để chia lại đất, gia đình ông T không đồng ý và có gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân (UBND) xã P để giải quyết nhưng không thành. Quá trình quản lý thửa đất gia đình ông T có phiếu kiểm kê cho từng lô rừng, nay gia đình đã trồng cây thông. Ngày 02/11/2006, thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông T1 đến tranh chấp xây tường gạch lấn chiếm từ năm 2019, sau đó đến tháng 3/2023 âm lịch ông T1 lại đến chặt 59 cây thông của gia đình ông T. Trên đất có cây thông do gia đình T trồng, khu mộ của gia đình ông T (02 ngôi mộ), khu mộ của gia đình ông T1 (05 ngôi mộ).
Tại đơn khởi kiện ngày 18/7/2023, ông T và bà L lại xác định phần đất bị ông T1 lấn chiếm là phần đất tiếp giáp với thửa đất số 379 đã được cấp bìa đỏ của ông T, bà L chứ không phải là thửa 379.
Nay yêu cầu ông T1 chấm dứt việc tranh chấp đất đai với gia đình, tháo dỡ hàng rào đã xây lấn chiếm đất của gia đình, trả lại đất cho gia đình được quản lý, sử dụng với diện tích 900m², địa chỉ thửa đất tại Pò M thuộc xóm B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng; buộc ông T1 phải bồi thường toàn bộ số cây thông đã chặt phá của gia đình trị giá 17.700.000 đồng (59 cây, mỗi cây trị giá 300.000 đồng). Toàn bộ cây thông sau khi chặt ông T1 đã lấy hết, hiện vẫn còn gốc.
Bị đơn ông Nông Văn T1 khai: Năm 1988 bố mẹ ông là Nông Văn N4, Nông Thị L3 lên khai hoang phục hóa đồi Pò Mả Chảo để trồng cây thông và 02 đám rẫy ở dưới chân đồi để trồng mạ. Đến năm 1995, được UBND huyện T giao đất, giao rừng theo dự án 327 về phủ xanh đất trống đồi núi trọc, ông đã cùng với bố mẹ lên trồng cây thông từ năm 1995, bên cạnh đó ông cũng được đào mương để xác định ranh giới giữa gia đình và gia đình ông Hoàng Văn T. Từ năm 1995 đến nay bố mẹ ông và ông đã chăm sóc và quản lý số cây thông đã trồng theo diện tích mà bố mẹ ông đã khai hoang phục hóa là 0,68 ha tại khoảnh 4, lô 56 theo bản đồ gốc đã được giao đất từ năm 1997.
Thời điểm bố mẹ ông còn sống thì không có ai đến tranh chấp, sau khi bố mẹ ông chết thì gia đình ông T mới đến tranh chấp. Số cây thông mà ông chặt là cây thông của gia đình ông do ông cùng bố mẹ trồng năm 1995, số lượng bao nhiêu cây thì ông không rõ nhưng gia đình đã quản lý từ trước đến nay. Năm 2002, bác của ông chết nên đã mang lên khu đất để chôn cất, việc này người dân xóm và chính quyền đều biết và gia đình ông T không có ý kiến gì. Năm 2019, gia đình ông xây hàng rào cũng gọi ông T đến chứng kiến và ông T cũng không có ý kiến gì.
Đối với các yêu cầu của phía nguyên đơn thì ông không nhất trí, phần đất gia đình ông đã quản lý từ năm 1988 đến nay mà theo lịch sử để lại và các nhân chứng hiện còn sống là người cùng xóm xác định đây là phần đất của gia đình ông, do bố mẹ ông khai hoang phục hóa; số cây thông là do bố mẹ ông và ông trồng từ năm 1995. Nay yêu cầu ông T, bà L chấm dứt việc tranh chấp đất đai với gia đình ông, trả lại đất và tài sản gắn liền với đất cho gia đình ông gồm: đất mồ mả, đất rừng và cây thông.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị C, Hoàng Thị Y, Hoàng Thị M, Hoàng Thị K, Hoàng Thị N1, Hoàng Văn N (anh chị em ruột của ông T) đều khai: Phần đất tranh chấp là của gia đình đã canh tác, quản lý từ đời ông nội, đến nay đã ba đời. Khu P thì gia đình có 3 đám đất, tính từ dưới lên thì đám thứ nhất rộng nhất, đám thứ hai hiện đang đặt mộ của bố mẹ, đám thứ ba là đám gia đình ông T1 đến tranh chấp và đã đặt mộ ở đó. Phần đất bố mẹ giao cho vợ chồng T quản lý, sử dụng và nay chúng tôi cũng không yêu cầu chia thừa kế, đòi hỏi quyền lợi gì. Khẳng định nguồn gốc đất là của gia đình chứ không phải đất của gia đình ông T1 vì gia đình ông T1 là người từ nơi khác đến định cư ở Bản Q.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Trung T2, Hoàng Đại S (con của ông T, bà L) đều khai: Được bố mẹ kể lại là ở đồi Pò Mả C thì gia đình có 3 đám đất, tính từ dưới lên thì đám thứ nhất rộng nhất, đám thứ hai hiện đang đặt mộ của ông bà nội, đám thứ ba là đám gia đình ông T1 đến tranh chấp và đã đặt mộ ở đó. Bố có nói lại với các anh rằng thời điểm đó gia đình nào có đất ở đâu thì sẽ chia phần rừng trên và kế tiếp. Thực tế các anh cũng thấy những người ở trong xóm cũng được chia như vậy. Gia đình ông T1 là người từ nơi khác đến định cư ở Bản Q nên không có đất ở đó được.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nông Thị L2, Nông Thị L1 đều khai: Sau khi lâm nghiệp tan rã, bố mẹ chúng tôi đã lên đồi Pò Mả Chảo để khai hoang phục hoá được hai đám rẫy để trồng mạ, khoai sọ. Đến năm 1995, sau khi có dự án 327 về giao đất, giao rừng thì gia đình đã được giao diện tích đất mà bố mẹ đã khai hoang trước đó. Đến năm 2002, bác chúng tôi là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nông Văn V từ trần thì gia đình đã cho an táng tại đó. Đến năm 2017 khi bố chúng tôi và chú chúng tôi qua đời cũng đưa lên an táng tại đó, gia đình anh trai chúng tôi Nông Văn T1 vẫn quản lý và sử dụng đất không có tranh chấp từ lúc khai hoang đến năm 2019 khi mẹ chúng tôi qua đời thì mới xảy ra tranh chấp. Khẳng định đất là của gia đình do bố mẹ khai hoang chứ không phải đất của gia đình ông T. Nay nhất trí giao cho anh trai là Nông Văn T1 quản lý, sử dụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị B (vợ của ông T1) khai: Bà là vợ của ông T1 về làm dâu năm 2007, được nghe mẹ chồng kể lại là thửa đất này do bố mẹ chồng tôi khai hoang sử dụng từ năm 1988 và canh tác. Năm 1995, sau khi có dự án 327 về giao đất, giao rừng phủ xanh đất trống đồi trọc thì bố mẹ chồng tôi được giao diện tích đất mà bố mẹ đã khai hoang trước đó. Năm 2002, 2017 đã an táng bác tôi là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nông Văn V và bố chồng tôi tại đó. Gia đình tôi vẫn quản lý và sử dụng đất không có tranh chấp từ lúc khai hoang đến năm 2019 khi mẹ chồng tôi qua đời thì mới xảy ra tranh chấp. Nay tôi không nhất trí với các yêu cầu khởi kiện của ông T và bà L, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn N2 khai: Ông có thửa đất giáp ranh với đất tranh chấp. Qua buổi đo đạc xác định phần đất mà gia đình ông T và ông T1 đang tranh chấp không lấn vào đất của gia đình. Theo ông được biết, đất đang tranh chấp là đất của bố mẹ ông T1 để lại cho ông T1, không phải đất của gia đình ông T. Từ trước đến nay ông thấy gia đình ông T1 trực tiếp quản lý, sử dụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn N3 khai: Ông có thửa đất giáp ranh với đất tranh chấp. Qua buổi đo đạc xác định phần đất mà gia đình ông T và ông T1 đang tranh chấp lấn vào đất của gia đình ông với diện tích 80,5m², ông không hiểu vì sao đất của ông chỉ giáp ranh với đất của ông T1, không giáp với đất ông T mà nay ông T lại xác định phần lấn chiếm sang đất của ông là đất của ông T. Theo ông được biết, đất đang tranh chấp là đất của bố mẹ ông T1 để lại cho ông T1, không phải đất của gia đình ông T. Đồng thời, do ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với phần đất lấn sang đất của ông nên ông đề nghị được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án này.
Những người làm chứng Lê Văn T4, Lê Văn T5, Lê Văn T3 đều khai: Năm 2019 được ông Nông Văn T1 thuê để xây dựng hàng rào tại ranh giới đồi Pò Mả Chảo giữa gia đình ông T1 và gia đình ông T. Trước khi tiến hành xây thì ông T1 có gọi ông T đến để thống nhất ranh giới. Sau khi hai người thống nhất xong thì mọi người mới tiến hành xây. Đề nghị cấp có thẩm quyền giải quyết, công nhận đất đang tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình ông T1.
Người làm chứng Hoàng Văn R khai: Ông là đảng viên trong chi bộ xóm được phân công đi chia đất rừng theo dự án 327 cho các hộ dân tại xóm B, ông biết rõ về thửa đất đang tranh chấp giữa gia đình ông T1 và ông T. Bố mẹ của ông T1 (ông N4, bà L3) đã quản lý từ năm 1988 để trồng cây thông, 02 đám rẫy ở dưới chân đồi thì trồng mạ. Đến năm 1995 được UBND huyện giao đất, giao rừng theo dự án 327 về phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bên cạnh đó giữa gia đình ông N4 (bố ông T1) và gia đình ông T cũng đã đào mương để xác định ranh giới. Ông N4 đã quản lý từ năm 1988 đến lúc chết, hiện nay phần đất do con trai là Nông Văn T1 trực tiếp quản lý. Trên đất đã có khu mộ của gia đình ông T1, thời điểm bố mẹ ông T1 còn sống thì không có ai đến tranh chấp. Hiện bố mẹ ông T1 đã chết, ông T đến tranh chấp là không đúng. Đề nghị cấp có thẩm quyền giải quyết, công nhận đất đang tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình ông T1.
Tòa án đã triệu tập các bên đương sự đến hòa giải hai lần nhưng các đương sự không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án. Ngày 10/11/2023, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ theo đơn yêu cầu của nguyên đơn với kết quả: Trên khu đất tranh chấp có khu mộ của gia đình ông T1 (05 ngôi mộ) đã được xây hàng rào bằng gạch, có nhiều gốc cây thông đã khai thác. Về tứ cận tiếp giáp (có sơ đồ trích lục kèm theo). Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ xác định được phần đất tranh chấp có khoảng 80,5m² hiện nay ông N3 là hộ liền kề đang sử dụng, canh tác. Do đó, tại biên bản hoà giải ngày 17/01/2024, ông T rút yêu cầu đối với phần đất đang tranh chấp với ông Lê Văn N3 để khởi kiện bằng một vụ án khác và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện với ông Nông Văn T1 với phần diện tích tranh chấp là 712,7m².
Theo công văn số 39/UBND ngày 23/6/2023 của UBND xã P và kết quả xem xét thẩm định thửa đất đang tranh chấp là phần tiếp giáp không liên quan đến thửa 379 tờ bản đồ số 01, diện tích 3.536m² của ông Hoàng Văn T và phần đất này nằm ngoài quy hoạch đất lâm nghiệp.
Theo kết quả định giá ngày 24/7/2024 của Hội đồng định giá huyện T, tổng giá trị tài sản định giá gồm 59 cây thông có tổng trị giá là 25.425.000 đồng.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn xác định không có tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm và giữ nguyên yêu cầu buộc bị đơn chấm dứt việc tranh chấp đất đai với gia đình, tháo dỡ hàng rào đã xây lấn chiếm đất của gia đình, trả lại đất cho gia đình được quản lý, sử dụng với diện tích 712,7m², địa chỉ thửa đất tại Pò M thuộc xóm B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng; buộc ông T1 phải bồi thường toàn bộ số cây thông đã chặt phá của gia đình trị giá 25.425.000 đồng (theo kết quả định giá).
Bị đơn và người đại diện xác định không có tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm và giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án là không nhất trí với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu nguyên đơn chấm dứt việc tranh chấp đất đai với gia đình, trả lại đất và tài sản gắn liền với đất cho gia đình gồm: đất mồ mả, đất rừng và cây thông.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị C, Hoàng Thị Y, Hoàng Thị K, Hoàng Trung T2, Hoàng Đại S tại phiên toà giữ nguyên lời khai và khẳng định nguồn gốc đất là của gia đình chứ không phải đất của gia đình ông T1. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận quyền sử dụng đất cho ông T.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nông Thị L2 và Hoàng Thị B giữ nguyên lời khai và cho rằng đất là của gia đình do bố mẹ khai hoang. Bà L2 nhất trí giao cho anh trai là Nông Văn T1 quản lý, sử dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận quyền sử dụng đất cho ông T1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn N2 giữ nguyên lời khai và cho rằng từ trước đến nay ông thấy gia đình ông T1 trực tiếp quản lý, sử dụng.
Những người làm chứng Lê Văn T4, Lê Văn T5, Lê Văn T3 và Hoàng Văn R đều khai giữ nguyên lời khai như đã khai tại Tòa án và cam kết những lời khai của mình tại phiên toà là hoàn toàn đúng sự thật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đều thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về hướng giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 39, 147, 157 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 221, khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự; các Điều 100, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Đề nghị:
- - Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hoàng Văn T và Nông Thị L về việc yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất đối với 712,7m², địa chỉ thửa đất tại đồi Pò M thuộc xóm B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng và yêu cầu bị đơn phải bồi thường toàn bộ số cây thông đã chặt của gia đình trị giá 25.425.000 đồng.
- - Buộc các nguyên đơn Hoàng Văn T và Nông Thị L không được ngăn cản việc quản lý, sử dụng của gia đình ông Nông Văn T1. Sau khi án có hiệu lực pháp luật ông Nông Văn T1 có thể mang thủ tục đến cơ quan có thẩm quyền đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- - Về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Nguyên đơn phải chịu chi phí chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá và án phí theo quy định của pháp luật.
- - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản”. Căn cứ vào khoản 6, khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Phần đất tranh chấp địa điểm tại xóm B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Tại phiên tòa vắng mặt một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai và đã đề nghị không tham gia tố tụng trong vụ án; Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Ngày 08/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh đã nhận được đơn đề nghị làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hoàng Văn T. Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh đã ban hành Giấy xác nhận số 04/GXN-TA ngày 08/8/2023 về việc xác nhận bà Hoàng Thị L4 tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Hoàng Văn T. Tuy nhiên, tại phiên tòa ông T xác nhận không yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình là bà Hoàng Thị L4 tham gia phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là đúng quy định của pháp luật.
[3] Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn Nông Văn T1 chấm dứt việc tranh chấp đất đai với gia đình, tháo dỡ hàng rào đã xây lấn chiếm đất của gia đình, trả lại đất cho gia đình được quản lý, sử dụng với diện tích 900m², địa chỉ thửa đất tại Pò M thuộc xóm B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng; buộc bị đơn phải bồi thường toàn bộ số cây thông đã chặt phá của gia đình trị giá 17.700.000 đồng (59 cây, mỗi cây trị giá 300.000 đồng). Sau đó, ông T đã tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện là yêu cầu Tòa án buộc ông Nông Văn T1 chấm dứt việc tranh chấp đất đai với gia đình, tháo dỡ hàng rào đã xây lấn chiếm đất của gia đình, trả lại đất cho gia đình được quản lý, sử dụng với diện tích 712,7m² và tại phiên tòa yêu cầu ông T1 bồi thường giá trị cây thông theo kết quả định giá tài sản là 25.425.000 đồng.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Về nguồn gốc đất tranh chấp theo phía nguyên đơn là của tổ tiên để lại và nguyên đơn đã quản lý, sử dụng liên tục từ năm 1980 đến nay. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị C, Hoàng Thị Y, Hoàng Thị M, Hoàng Thị K, Hoàng Thị N1, Hoàng Văn N (anh chị em ruột của ông T) cũng xác nhận điều này.
Tuy nhiên, quá trình Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ, lấy lời khai của những người làm chứng đều xác nhận phần đất tranh chấp bố mẹ của ông T1 là ông Nông Văn N4, bà Nông Thị L3 (đều đã chết) đã quản lý từ năm 1988 để trồng cây thông, 02 đám rẫy ở dưới chân đồi thì trồng mạ. Đến năm 1995 được UBND huyện T giao đất, giao rừng theo dự án 327 về phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bên cạnh đó giữa gia đình ông N4 (bố ông T1) và gia đình ông T cũng đã đào mương để xác định ranh giới. Ông N4 đã quản lý từ năm 1988 đến lúc chết, hiện nay phần đất do con trai là Nông Văn T1 trực tiếp quản lý. Trên đất đã có khu mộ của gia đình ông T1, thời điểm bố mẹ ông T1 còn sống thì không có ai đến tranh chấp.
Trong số những người làm chứng có người có đất giáp ranh với đất tranh chấp (ông N2, ông N3), có người là đảng viên trong chi bộ xóm được tham gia đi chia đất rừng theo dự án 327 và những người này không có mâu thuẫn gì với nguyên đơn nhưng tất cả đều thừa nhận gia đình bị đơn đã trực tiếp quản lý, sử dụng ổn định không có tranh chấp từ năm 1988, đến năm 2019 thì nguyên đơn mới đến tranh chấp. Tại biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày 28/4/2023 của UBND xã P cũng kết luận ông Nông Văn T1 là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất và việc ông T khẳng định phần đất là của ông T là không có cơ sở.
Nguyên đơn ông T, bà L cho rằng khoảng năm 2003 - 2004, gia đình bị đơn đặt mộ xuống đất rừng của gia đình, thời điểm đó ông T bị tai nạn giao thông không đi lại được. Khi gia đình biết sự việc thì mộ đã chôn rồi do tình làng nghĩa xóm nên không yêu cầu các cơ quan chức năng giải quyết. Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện nay trên phần đất tranh chấp gia đình bị đơn có đặt 05 ngôi mộ, ngôi mộ đầu tiên đặt năm 2002, thời điểm đặt các ngôi mộ qua nhiều năm từ năm 2002 nhưng gia đình nguyên đơn không có ý kiến gì, cũng không đề nghị cơ quan chức năng giải quyết. Do đó, nguyên đơn cho rằng gia đình đã trực tiếp quản lý, sử dụng ổn định phần đất tranh chấp từ năm 1980 là không có căn cứ. Hơn nữa, chính nguyên đơn cũng không xác định được rõ vị trí đất tranh chấp điều đó thể hiện qua việc tại đơn khởi kiện ngày 05/6/2023 nguyên đơn cho rằng đất tranh chấp nằm trong thửa 379 của gia đình, đơn khởi kiện ngày 18/7/2023 nguyên đơn lại cho rằng đất tranh chấp là phần đất liền kề với thửa 379.
Như đã phân tích ở trên, có căn cứ khẳng định gia đình bị đơn Nông Văn T1 có quá trình quản lý, sử dụng thửa đất ổn định, lâu dài và không có tranh chấp trên 30 năm. Toàn bộ số cây thông mà bị đơn đã chặt là của gia đình bị đơn trồng, điều đó thể hiện qua việc ngày 09/5/2023 UBND xã P nhất trí cho bị đơn khai thác.
Từ những phân tích và nhận định trên đây, Hội đồng xét xử thấy rằng toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn chấm dứt việc tranh chấp đất đai với gia đình, tháo dỡ hàng rào đã xây lấn chiếm đất của gia đình, trả lại đất cho gia đình được quản lý, sử dụng với diện tích 712,7m², địa chỉ thửa đất tại đồi Pò M thuộc xóm B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng và yêu cầu bị đơn phải bồi thường toàn bộ số cây thông đã chặt của gia đình trị giá 25.425.000 đồng (theo kết quả định giá) là không có căn cứ để chấp nhận.
[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Nguyên đơn đã tạm nộp số tiền 7.000.000 đồng, số tiền này Tòa án đã chi hết 5.440.000 đồng, số còn lại 1.560.000 đồng Tòa án đã tiến hành trả lại cho nguyên đơn.
Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá số tiền 5.440.000 đồng.
[5] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và 1.271.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch để sung vào ngân sách Nhà nước.
[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 6, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 26, Điều 100, Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai 2013; Các Điều 164, 169 Bộ luật dân sự 2015;
Áp dụng khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hoàng Văn T, Nông Thị L về việc yêu cầu bị đơn Nông Văn T1 chấm dứt việc tranh chấp đất đai với gia đình, tháo dỡ hàng rào đã xây lấn chiếm đất của gia đình, trả lại đất cho gia đình được quản lý, sử dụng với diện tích 712,7m², địa chỉ thửa đất tại đồi Pò M thuộc xóm B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng và yêu cầu bị đơn phải bồi thường toàn bộ số cây thông đã chặt của gia đình trị giá 25.425.000 đồng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Buộc nguyên đơn ông Hoàng Văn T, bà Nông Thị L phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 5.440.000 đồng. Xác nhận nguyên đơn đã nộp đủ.
- Về án phí: Nguyên đơn ông Hoàng Văn T, bà Nông Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và 1.271.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch để sung vào ngân sách Nhà nước.
Ông Nông Văn T1 được quyền quản lý, sử dụng với diện tích 712,7m², địa chỉ thửa đất tại đồi Pò M thuộc xóm B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Sau khi án có hiệu lực pháp luật ông Nông Văn T1 có thể mang thủ tục đến cơ quan có thẩm quyền đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
(Có sơ đồ thửa đất kèm theo)
Xác nhận nguyên đơn đã tạm nộp 742.500 đồng theo biên lai số 0004307 ngày 20/7/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh thu. Nay nguyên đơn còn phải nộp thêm 828.500 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Thúy Quỳnh |
Bản án số 06/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG về tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản
- Số bản án: 06/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1967 và bà Nông Thị L, sinh năm 1973. Cùng địa chỉ: Bản Q, P, T, Cao Bằng. - Bị đơn: Ông Nông Văn T1, sinh năm 1976; địa chỉ: Bản Q, P, T, Cao Bằng.
