|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 06/2024/DS-ST Ngày 12 - 4 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Huy.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Trường;
- Ông Nguyễn Minh Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viên kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Khánh L - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (địa chỉ: Số D-L, thành phố Đ), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2024/TLST-DS ngày 08/01/2024 về việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-DS ngày 11/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-DS ngày 28/3/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ;
Trụ sở đóng tại: Số A- T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Đức T - Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L1, Trưởng Phòng quản lý rủi ro Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Q (Văn bản ủy quyền số 963/QĐ-BIDV ngày 25/10/2021 và số 197/QU-BIDV.QT ngày 06/3/2024). Có mặt.
2. Bị đơn: Bà Võ Thị Tương H, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Số B Quốc Lộc A (đường L), Khu phố A, Phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 02 (Hai), không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[I] Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (Viết tắt: Ngân hàng Đ), trình bày:
Ngày 28/12/2016, bà Võ Thị Tương H, sinh năm 1970, Chứng minh nhân dân số: [...] - do Công an tỉnh Q cấp ngày 29/8/2009; trú tại: Số B Quốc Lộc A (đường L), Khu phố A, Phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Viết tắt: bà H), có văn bản yêu cầu Ngân hàng Đ - Chi nhánh Q, cấp thẻ tín dụng (Viết tắt: Thẻ), với hạn mức tín dụng đề nghị: 20.000.000 đồng.
Ngày 29/12/2016, Ngân hàng Đ - Chi nhánh Q, đồng ý cấp Thẻ theo yêu cầu của bà H và giao T1 (TK Thẻ: 428695576621), cho bà H sử dụng.
Theo thỏa thuận tại “Điều kiện, điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng” (Viết tắt: Điều kiện, điều khoản), thì: Bà H có quyền sử dụng Thẻ được cấp để rút tiền mặt hoặc thanh toán dịch vụ tại những điểm chấp nhận Thẻ mà không cần phải có tiền sẵn trong thẻ, với hình thức: Rút tiền mặt, thanh toán dịch vụ trước, trả tiền lại cho Ngân hàng Đ, sau.
* Thời điểm và giá trị thanh toán: Phải thanh toán nợ vào hoặc trước Ngày đến hạn thanh toán; thanh toán nợ ít nhất bằng giá trị Số tiền thanh toán tối thiểu trong Kỳ sao kê; Nếu không thanh toán ít nhất bằng giá trị Số tiền thanh toán tối thiểu trong Kỳ sao kê, thì phải chịu phí phạt chậm thanh toán theo quy định của Ngân hàng Đ.
Khoản tiền phải thanh toán bao gồm: Số tiền đã rút + Số tiền thanh toán dịch vụ + Lãi suất + Phí.
* Lãi suất, phí sử dụng được tính như sau:
- Lãi được cộng dồn hàng tháng theo dư nợ và được tính theo mức lãi suất quy định của Ngân hàng Đ.
- Thời điểm tính lãi:
Đối với giao dịch ứng tiền mặt (Rút tiền mặt): Lãi được tính theo giao dịch gốc và phí giao dịch kể từ ngày giao dịch đến ngày thanh toán toàn bộ giao dịch.
Đối với giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ: Nếu thanh toán toàn bộ dư nợ cuối kỳ sao kê trước hoặc vào Ngày đến hạn thanh toán thì giao dịch trong kỳ sao kê được miễn lãi; Nếu không thanh toán hoặc thanh toán nợ sau Ngày đến hạn thanh toán hoặc chỉ thanh toán một phần thì lãi được tính toàn bộ giao dịch kể từ ngày giao dịch đến ngày thanh toán toàn bộ giao dịch đó.
Phí: Bao gồm, phí thường niên, phí giao dịch, phí chuyển đổi ngoại tệ, phí dịch vụ giá trị gia tăng, phí phạt chậm thanh toán.
Ngày sao kê hàng tháng theo thỏa thuận, là ngày 07/3. Ngày bà H sử dụng Thẻ sau cùng, là ngày 14/11/2020 (Thanh toán dịch vụ); theo quy định tại Điều 3, 4 và 5 của Điều kiện, điều khoản, thì ngày 07/12/2020, bà H phải thanh toán cho Ngân hàng Đ số tiền đã sử dụng nhưng bà H không thực hiện mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần trực tiếp cũng như gửi văn bản yêu cầu. Do bà H vi phạm thời hạn trả nên Ngân hàng Đ khởi kiện bà H, với yêu cầu:
Buộc bà H phải trả cho Ngân hàng Đ theo Đăng ký phát hành và sử dụng Thẻ số CIF 9124790 ngày 28/12/2016, với tổng số tiền: 31.696.188 đồng, trong đó: Gốc: 16.981.812 đồng; Lãi: 8.404.715 đồng; Các loại phí: 6.309.661 đồng (Tính đến ngày 20/10/2023).
Bà H phải tiếp tục trả cho Ngân hàng Đ tiền lãi, phí phát sinh kể từ ngày 21/10/2023 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ theo Đăng ký phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng đã ký với Ngân hàng.
Tại phiên tòa, Ngân hàng Đ bổ sung yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Yêu cầu bà H phải trả thêm tiền lãi kể từ ngày 21/10/2023 đến hết ngày 11/4/2024, với số tiền: 1.457.178 đồng.
[II] Bị đơn là (Bà Võ Thị Tương H): Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà H không giao nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải do Tòa án tổ chức.
[III] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà:
(1) Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà thụ lý vụ án số: 07/2024/TLST-DS ngày 08/01/2024; xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án; xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Các hoạt động tố tụng của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại các Điều 203, 205, 208, 209, 210 và 220 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Hoạt động tố tụng của Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng quy định tại các Điều 11, 12, 14, 51 và 225 Bộ luật Tố tụng dân sự.
(2) Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
(3) Về án phí: Buộc bà H phải chịu án dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; Trả lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Ngân hàng Đầu tư.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[I] Về tố tụng:
(1) Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Tranh chấp giữa Ngân hàng Đầu tư với bà H, phát sinh từ Hợp đồng tín dụng (Đăng ký phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) ngày 29/12/2016; Tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng tín dụng, bà H cư trú tại Khu phố A, Phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng được cấp, bà H đã thay đổi nơi cư trú mà không thông báo cho Ngân hàng Đ, biết nên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39, điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự.
(2) Xét xử vắng mặt bị đơn:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thủ tục phiên tòa cho bị đơn (B) theo đúng quy định của pháp luật đến lần thứ hai nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt bị đơn.
(3) Giới hạn xét xử:
Tại phiên tòa, nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Yêu cầu bà H phải trả thêm tiền lãi kể từ ngày 21/10/2023 đến hết ngày 11/4/2024, với số tiền: 1.457.178 đồng, thấy: Yêu cầu bổ sung tại phiên tòa của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Vì vậy, cần căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận xem xét yêu cầu bổ sung của nguyên đơn trong cùng vụ án này.
Bị đơn (Bà H) không giao nộp văn bản trình bày ý kiến cũng như tài liệu, chứng cứ, 02 lần vắng mặt tại phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải; vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa để xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[II] Về nội dung:
Theo nội dung trình bày của nguyên đơn cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, thấy: Bà H được Ngân hàng Đ cấp Thẻ sử dụng để rút tiền mặt và thanh toán các khoản Bà chi tiêu tại những điểm chấp nhận Thẻ mà không cần phải có tiền sẵn trong thẻ, với hình thức, rút tiền mặt, chi tiêu trước, trả tiền lại cho Ngân hàng Đ, sau. Khoản tiền bà H phải trả cho Ngân hàng Đ, bao gồm: Số tiền đã rút hoặc số tiền thanh toán dịch vụ + lãi suất + Phí.
Như vậy, nội dung thỏa thuận giữa bà H với Ngân hàng Đ được xác lập tại văn bản yêu cầu cấp Thẻ có nội dung của một hợp đồng tín dụng. Theo đó, Ngân hàng Đ có nghĩa vụ thanh toán tiền chi tiêu, xuất tiền mặt (Thông qua cây rút tiền ATM) khi bà H sử dụng Thẻ để yêu cầu; Bà H có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng Đầu tư: Số tiền đã rút + Số tiền thanh toán dịch vụ + Lãi suất + Phí.
Xem xét nội dung thỏa thuận về lãi suất, Hội đồng xét xử thấy: Các bên tự nguyện thỏa thuận mức lãi suất là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xem xét chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có căn cứ để xác định: Ngày sao kê hàng tháng theo thỏa thuận, là ngày 07/3. Ngày bà H sử dụng Thẻ sau cùng, là ngày 14/11/2020 (Thanh toán dịch vụ); theo quy định tại Điều 3, 4 và 5 của Điều kiện, điều khoản, thì ngày 07/12/2020, bà H phải thanh toán cho Ngân hàng Đ số tiền đã sử dụng nhưng bà H không thực hiện mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần trực tiếp cũng như gửi văn bản yêu cầu.
Như vậy, Ngân hàng Đ khởi kiện bà H, với yêu cầu: Buộc bà H phải trả nợ tiền sử dụng Thẻ cho Ngân hàng Đ, với số tiền 33.153.366 đồng, gốc: 16.981.812 đồng; Lãi: 9.861.893 đồng; Phí: 6.309.661 đồng (Tính đến ngày 11/4/2024) là có căn cứ cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[III] Về án phí:
Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ được chấp nhận toàn bộ nên trả lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng:
- Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91; khoản 3 Điều 144; Điều 147; khoản 1 Điều 244; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng.
- Khoản 1 Điều 357; Điều 463 và khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
Buộc bà Võ Thị Tương H phải trả nợ tiền sử dụng Thẻ tín dụng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ, với tổng số tiền: 33.153.366 đồng (Ba mươi ba triệu, một trăm năm mươi ba ngàn, ba trăm sáu mươi sáu đồng), gồm : Tiền gốc: 16.981.812 đồng; tiền lãi: 9.861.893 đồng; Phí: 6.309.661 đồng (Tính đến ngày 11/4/2024).
Bà Võ Thị Tương H phải tiếp tục trả tiền lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh theo thỏa thuận cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ kể từ ngày 12/4/2024 cho đến khi trả hết số nợ nêu trên.
2. Về án phí:
Bà Võ Thị Tương H phải chịu 1.657.000 đồng (một triệu, sáu trăm năm mươi bảy ngàn đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 792.000 đồng (Bảy trăm chín mươi hai ngàn đồng chẵn) theo Biên lai số 0000123 ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết/.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Huy |
Bản án số 06/2024/DS-ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 06/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Đ - Bà Võ thị Tương H
