Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/DSPT

Ngày: 30/11/2023

“V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn; Ông Nguyễn Văn Nam

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15/11 và ngày 30/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2023/TLPT-DS ngày 06/10/2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2023/DS-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 02/2023/QĐ-PT ngày 11/10/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Hữu P, sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Hoàng Hùng C - Luật sư thuộc công ty L1, đoàn luật sư tỉnh B (có mặt)

Bị đơn: Ông Ngô Viết T, sinh năm 1958 và bà Lê Thị X, sinh năm 1960; Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (đều vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Ngô Viết T1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:.

  1. Bà Lê Thị H, sinh năm 1964 (vắng mặt).
  2. Chị Lê Thị T2, sinh năm 1988 (vắng mặt).
  3. Anh Lê Hữu D, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

  1. Chị Lê Thị N, sinh năm 1991; Địa chỉ: Ngõ C, khu F, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh (vắng mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Lê Thị H, chị Lê Thị T3, anh Lê Hữu D, chị Lê Thị N: Ông Lê Hữu P, sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

Do có kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Hữu P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn trình bày: Gia đình ông hiện đang quản lý và sử dụng thửa đất số 12, tờ bản đồ số 20, diện tích 235m² tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (gọi tắt là thửa đất số 12). Nguồn gốc thửa đất này là do Hợp tác xã (viết tắt là HTX) thôn Đ cấp cho gia đình ông từ năm 1985. Hiện thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) nhưng gia đình ông sử dụng ổn định và hàng năm đóng thuế cho nhà nước đầy đủ với diện tích được giao là 235m². Thửa đất của gia đình ông có tứ cận: Phía Đông giáp nhà ông T4 bà H1; Phía Tây giáp với tiểu ngõ; Phía Nam giáp với nhà bà T5; Phía Bắc giáp với nhà ông T bà X.

Năm 2001 khi Nhà nước tiến hành đo đạc để thiết lập tờ bản đồ chính quy thôn Đ thì theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất và tờ bản đồ chính quy năm 2002 thửa đất của gia đình ông là thửa đất số 12. Còn thửa đất của gia đình ông T là thửa đất số 01, tờ bản đồ số 20, diện tích 365m² đứng tên hộ ông Ngô Viết T (gọi tắt là thửa đất số 01). Khi tiến hành đo đạc cán bộ xã có đến lập biên bản và yêu cầu giữ nguyên hiện trạng về ranh giới mốc giới và ông có ký vào biên bản.

Thửa đất của gia đình ông có cạnh phía Bắc giáp với thửa đất số 01, thửa đất số 01 cũng chưa được cấp GCNQSDĐ. Năm 1985 khi gia đình ông được HTX giao đất thì gia đình ông T đã ở trên thửa đất số 01 từ năm 1983.

Sau khi được HTX giao đất năm 1986 gia đình ông xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4 để ở, mặt quay hướng Tây của thửa đất. Năm 1996 gia đình ông xây mới 01 ngôi nhà theo hướng Đ, lưng ngôi nhà hướng Bắc giáp với thửa đất của gia đình ông T. Khi xây dựng ông không xây hết đất mà bớt lại một phần đất dọc theo tường ngôi nhà. Sau khi ông xây móng xong thì gia đình ông T có xây dựng 01 nhà tắm nhỏ và xây lấn sang phần đất của gia đình ông để lại. Ông có sang nhắc nhở thì ông T không trả lại mà vẫn tiếp tục sử dụng từ đó cho đến nay.

Ngày 01/3/2022 ông T phá dỡ công trình cũ để xây lại, ông có sang nói chuyện với ông T là đất của ông đến đâu thì xây đến đó nhưng gia đình ông T vẫn lát sân, xây trụ cổng hết cả phần đất gia đình ông bớt lại từ năm 1996. Ông đã làm đơn gửi thôn và xã báo cáo sự việc yêu cầu giải quyết, thôn và xã đã tiến hành đo đạc và tổ chức hòa giải giữa hai gia đình nhưng không thành.

Nay ông yêu cầu Tòa án buộc ông T, bà X phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần đất của gia đình ông để trả lại cho gia đình ông phần diện tích bị thiếu là 16,5m² đúng hiện trạng thửa đất số 12, tờ bản đồ số 20, diện tích 235m²

Bị đơn và người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày: Gia đình ông T, bà X hiện đang quản lý và sử dụng thửa đất số 01, tờ bản đồ số 20, diện tích 365m² tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Nguồn gốc thửa đất này là do HTX thôn Đoài cấp cho gia đình ông T. Hiện thửa đất chưa được cấp GCNQSDĐ nhưng gia đình ông T sử dụng ổn định và hàng năm đóng thuế cho nhà nước đầy đủ với diện tích được giao là 365m². Thửa đất của gia đình ông T có tứ cận: Phía Đông giáp nhà ông C1, bà T6; Phía Tây giáp với nhà ông C2; Phía Nam giáp với nhà ông P, ngõ đi, nhà ông C3, bà L; Phía Bắc giáp với nhà ông B, bà T7.

Năm 2001 khi Nhà nước tiến hành đo đạc để thiết lập tờ bản đồ chính quy thôn Đ thì theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất và tờ bản đồ chính quy năm 2002 thửa đất của gia đình ông T là thửa đất số 01, tờ bản đồ số 20, diện tích 365m² đứng tên hộ ông Ngô Viết T. Còn thửa đất của gia đình ông P là thửa đất số 12, tờ bản đồ số 20, diện tích 235m² đứng tên hộ ông Lê Hữu P.

Thửa đất của gia đình ông T có một phần cạnh phía Nam giáp với thửa đất số 12, tờ bản đồ số 20, diện tích 235m², tại thôn Đ, xã T của gia đình ông P, thửa đất số 12 cũng chưa được cấp GCNQSDĐ.

Sau khi được HTX giao đất gia đình ông T xây dựng các công trình để phục vụ sinh hoạt chung. Phía giáp với gia đình ông P gia đình ông T có xây dựng khu chuồng lợn và nhà tắm. Để không làm ảnh hưởng đến nhà ông P ông T bớt lại khoảng 50cm để làm đường thoát nước nhưng mái vẫn lợp sát vào bức tường ngôi nhà của gia đình ông P. Năm 2000 gia đình T phá ngôi nhà cũ và xây mới 01 ngôi nhà 02 tầng mặt quay hướng Nam. Đến năm 2022 gia đình ông T phá khu chuồng lợn và nhà tắm giáp với nhà ông P để làm sân vườn. Khi làm sân gia đình ông T có lát một phần sát vào bức tường ngôi nhà của gia đình ông P ở phía gần cồng, phần còn lại gia đình ông T xây quây lại để trồng rau nhưng vẫn trên phần đất của gia đình ông T.

Đối yêu cầu khởi kiện của ông P, phía gia đình ông T không đồng ý vì ông T, bà X không lấn chiếm đất của gia đình ông P, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Với nội dung trên, Bản án sơ thẩm số 10/DSST/2023 ngày 28/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Phong căn cứ các Điều 175 của Bộ luật dân sự; Điều 166; 170; 202; 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 147; 165; 166; 239; 243, 244; 248; 260; 264; 267 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Lê Hữu P buộc bị đơn là ông Ngô Viết T, bà Lê Thị X phải tháo dỡ các công trình xây dựng lấn chiếm để trả lại gia đình ông P phần đất có diện tích đất bị thiếu là 16,5m2 tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 20, diện tích 235m2, tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/8/2023, nguyên đơn ông Lê Hữu P có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày, tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Hữu P nộp trong hạn luật định là kháng cáo hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về nội dung:

Nguyên đơn ông P yêu cầu Tòa án buộc ông T, bà X phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần đất của gia đình ông P để trả lại cho gia đình ông P phần diện tích bị thiếu là 16,5m² đúng hiện trạng thửa đất số 12, tờ bản đồ số 20, diện tích 235m².

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là: Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất; Hồ sơ kỹ thuật thửa đất do UBND xã T cấp; Hồ sơ kỹ thuật thửa đất của Công ty TNHH T8; Trích đo hiện trạng thửa đất so với bản đồ địa chính; Trích đo thửa đất số 12, tờ bản đồ số 20. Bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng ông xây dựng nhà trên phần đất của nhà ông, không lấn chiếm sang nhà nguyên đơn.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ chứng minh mà phí nguyên đơn, bị đơn đưa ra, Toà án cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi xét xử sơ thẩm, không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

[3] Xét kháng cáo của ông Lê Hữu P thì thấy:

Đối với nguồn gốc, tứ cận và hiện trạng thửa đất số 12 của ông P. Nguồn gốc thửa đất số 12 do Hợp tác xã thôn Đ cấp cho hộ ông Lê Hữu P năm 1985. Thửa đất chưa được cấp GCNQSDĐ nhưng theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất và tờ bản đồ chính quy năm 2002 thửa đất đứng tên chủ sử dụng là hộ ông Lê Hữu P. Thửa đất có tứ cận: Phía Đông giáp nhà ông T4 bà H1; Phía Tây giáp với tiểu ngõ; Phía Nam giáp với nhà bà T5; Phía Bắc giáp với nhà ông T bà X.

Đối với nguồn gốc, tứ cận và hiện trạng thửa đất số 01 của ông T, bà X. Nguồn gốc thửa đất này do HTX thôn Đoài cấp cho hộ ông Ngô Viết T khoảng năm 1983. Thửa đất chưa được cấp GCNQSDĐ. Theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất và tờ bản đồ chính quy năm 2002 thửa đất đứng tên chủ sử dụng là hộ ông Ngô Viết T. Thửa đất có tứ cận: Phía Đông giáp nhà ông C1, bà T6; Phía Tây giáp với nhà ông C2; Phía Nam giáp với nhà ông P, ngõ đi, nhà ông C3, bà L; Phía Bắc giáp với nhà ông B, bà T7.

Như vậy, ranh giới, mốc giới giữa hai thửa đất số 12 của gia đình ông P và thửa đất số 01 của gia đình ông T là cạnh phía Bắc của thửa đất số 12 và một phần cạnh phía Nam của thửa đất số 01. Nguồn gốc 02 thửa đất này đều do HTX thôn Đoài cấp. Quá trình sử dụng năm 1996 gia đình ông P có xây 01 ngôi nhà mặt quay hướng Nam và lưng ngôi nhà hướng Bắc giáp với thửa đất số 01 của gia đình ông T.

Năm 2001, khi Nhà nước tiến hành đo đạc để thiết lập tờ bản đồ chính quy thì ông P, ông T đều ký vào biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới. Gia đình ông P, ông T đều sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp, khiếu kiện gì từ đó đến năm 2022. Đây là sự việc được các bên đương sự đều thừa nhận nên không cần phải chứng minh theo Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo ông P trình bày sau khi được HTX giao đất năm 1986, gia đình ông xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4 để ở, mặt quay hướng Tây của thửa đất. Năm 1996 gia đình ông xây mới 01 ngôi nhà theo hướng Đ, lưng ngôi nhà hướng Bắc giáp với thửa đất của gia đình ông T. Khi xây dựng ông không xây hết đất mà bớt lại một phần đất dọc theo bức tường ngôi nhà. Sau khi ông xây móng xong thì gia đình ông T có xây dựng 01 nhà tắm nhỏ và xây lấn sang phần đất của gia đình ông để lại, ông có sang nhắc nhở thì ông T không trả lại mà vẫn tiếp tục sử dụng từ đó cho đến nay. Ngày 01/3/2022 ông T phá dỡ công trình cũ để xây lại ông có sang nói chuyện với ông T là đất của ông đến đâu thì xây đến đó nhưng gia đình ông T vẫn lát sân, xây trụ cổng hết cả phần đất gia đình ông bớt lại từ năm 1996. Khi cán bộ địa chính xã T, huyện Y đo đạc thì diện tích gia đinh ông đang sử dụng là 218,5m², thiếu 16,5m² so với diện tích đất được cấp.

Theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất năm 2002 cấp cho thửa đất số 12 và thửa đất số 01, biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất có chữ ký ông T, ông P và trích đo hiện trạng thửa đất ngày 26/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Phong thì đường ranh giới giữa hai thửa đất vẫn trùng khớp và nằm trên đường thẳng. Hơn nữa, hiện trạng sử dụng đất thực tế của gia đình ông T là 343,2m², ít hơn so với diện tích đất theo bản đồ đo đạch năm 2002 (365m²).

Do vậy, không có căn cứ để xác định ông T, bà X lấn chiếm diện tích 16,5m² của gia đình ông P, nên yêu cầu khởi kiện của ông P là không có cơ sở để chấp nhận.

Tại phiên tòa ngày 15/11/2023, phía nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ (đào phần đất giáp ranh giữa 2 nhà sau xuống khoảng 60cm, tòa án đã tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, tuy nhiên khi các cơ quan chuyên môn xuống xem xét phía bị đơn có lời nói xúc phạm, chửi bới phía nguyên đơn, đồng thời cản trở việc đào phần đất giáp ranh hai nhà, do đó không tiến hành xét xét thẩm định tại chỗ được.

Đối với các căn cứ nguyên đơn đưa ra tại Toà án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã xem xét nhưng không có cơ sở để chứng minh việc bị đơn lấn chiếm đất của nhà nguyên đơn, ngoài ra tại giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án nhưng không đưa ra tài liệu, chứng cứ nào mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo.

[4] Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 10/2023/DSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[5] Về án phí: Ông P là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hữu P, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2023/DS-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong
  2. Về án phí phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho ông Lê Hữu P.
  3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 10/2023/DSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND huyện Yên Phong;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2023/DSPT ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 06/2023/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Nguyên đơn: Ông Lê Hữu Phạn, sinh năm 1962; Bị đơn: Ông Ngô Viết Thắng, sinh năm 1958
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger