Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÀ BẮC
TỈNH HOÀ BÌNH

Bản án số: 06 /2021/HNGĐ-ST
Ngày : 20/7/2021
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA HOÀ BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Xa Kỳ Tiến
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đing Trọng Huề và bà Phạm Thị Dần
  • - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đào Thị Thanh Huyền
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Ông Đinh Trọng Kiêm - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đà Bắc. Mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 78/2020/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 10 năm 2020 về yêu cầu ly hôn, nuôi con chung và giải quyết nợ chung, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2021 và các quyết định hoãn phiên tòa số 05/2021/QĐST-HNGĐ ngày 09/4/2021, số 07/2021/QĐST-HNGĐ ngày 07/5/2021, số 09/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 04/6/2021 và số 10/2021/QĐST-HNGĐ ngày 02/7/2021, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Triệu Thị Ng, sinh năm 1978. Địa chỉ: Xóm T, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Bàn Văn U, sinh năm 1979. Địa chỉ: Xóm T, xã Cao S, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
  3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đinh Thị Quyến, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
  4. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, do ông Nguyễn Đinh Hoàng - Phó Giám đốc Phòng giao dịch huyện Đà Bắc làm đại diện theo ủy quyền. Có đơn xin vắng mặt.
    • - Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1970. Địa chỉ: Xóm L, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có đơn xin vắng mặt.
    • - Anh Nguyễn Văn V (Đặng Xuân V), sinh năm 1969. Địa chỉ: Xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung khởi kiện, bản tự khai và phần trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn thì: Chị Triệu Thị Ng và anh Bàn Văn U kết hôn với nhau năm 2000, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình, hôn nhân do hai bên tự nguyện không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc với nhau, nhưng đến đầu năm 2001 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh U thường hay uống rượu say rồi chửi bới, đánh đập chị Ng rất nhiều lần. Mặc dù đã được đưa ra xóm hòa giải nhưng anh U vẫn không thay đổi. Nay thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục chung sống nên chị Ng yêu cầu được ly hôn anh U.

Về con chung: Vợ chồng chị Ng, anh U có hai con chung là Bàn Văn D, sinh ngày 31/7/2001, và Bàn Quốc Kh, sinh ngày 02/9/2008. Nguyện vọng của chị Ng là được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bàn Quốc Kh cho đến khi trưởng thành, chị Ng chưa yêu cầu anh U cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Ng chưa yêu cầu giải quyết.

Về công nợ chung: Nợ Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam 42.000.000đ tiền gốc, nợ chị Nguyễn Thị H 5,5 chỉ vàng 9999, nợ anh Nguyễn Văn V (Đặng Xuân V) 17.585.000đ. Chị Ng nhận trách nhiệm trả số nợ trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết việc ly hôn và nuôi con chung, là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn có hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Do đó Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật TTDS.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị Ng và anh Bàn Văn U tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình từ năm 2000. Do đó hôn nhân của chị Ng, anh U là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét thấy mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị Triệu Thị Ng đối với anh Bàn Văn U là có căn cứ theo quy định tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, và 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Triệu Thị Ng đối với anh Bàn Văn U. Xử cho chị Triệu Thị Ng được ly hôn anh Bàn Văn U.

2. Về con chung: Giao con chung là Bàn Quốc Kh, sinh ngày 02/9/2008 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Bàn Quốc Kh đủ 18 tuổi hoặc khi có quy định khác của pháp luật, chị Ng chưa yêu cầu anh U cấp dưỡng nuôi con chung, anh U có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về nợ chung: Ghi nhận thỏa thuận về sự tự nguyện trả nợ của chị Triệu Thị Ng với Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam số tiền gốc 42.000.000đ và lãi phát sinh; trả nợ chị Nguyễn Thị H 5,5 chỉ vàng SJC 9999; trả nợ anh Nguyễn Văn V số tiền 17.585.000đ. Thời hạn trả nợ cuối cùng là ngày 31/12/2021.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hòa Bình;
- VKSND huyện Đà Bắc;
- Chi cục THADS Đà Bắc;
- Các đương sự;
- UBND xã Cao Sơn;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà


(Đã ký)


Xa Kỳ Tiến
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2021/HNGĐ-ST ngày 20/07/2021 của Toà án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình về về yêu cầu ly hôn, nuôi con chung và giải quyết nợ chung

  • Số bản án: 06/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Về yêu cầu ly hôn, nuôi con chung và giải quyết nợ chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Triệu Thị Ng.NS: 1978 BĐ: Bàn Văn U. NS: 1979 Cùng HKTT: Xóm T, xã C, huyện Đ, Hòa bình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger