Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIA
TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 06/2021/HNGĐ-ST
Ngày 05 - 7 - 2021
V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lành Văn Huế
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Hoàng Văn Chính
    • Ông Hoàng Văn Quý
  • - Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Dương Hà Thu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 28/2021/TLST-HNGĐ ngày 02/4/2021 về việc "Ly hôn và tranh chấp nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-DS, ngày 10/6/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2021/QĐST-DS, ngày 28/6/2021 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lâm Thị V, sinh năm 1994. Có mặt.
    HKTT: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
    Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
  • - Bị đơn: Anh La Văn Đ, sinh năm 1989. Có mặt.
    Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như lời khai tại phiên toà nguyên đơn chị Lâm Thị V trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị V được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với anh La Văn Đ, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn ngày 23/12/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống có hạnh phúc và sinh được 02 người con. Từ năm 2017, vợ chồng tôi xảy ra nhiều mâu thuẫn do anh Đ thường xuyên tụ tập bạn bè, thậm trí còn tụ tập đánh bạc tại nhà trong những ngày tết nguyễn đán và mỗi lần uống rượu say về đều chửi bới chị. Chị V cố gắng nhẫn nhịn vì các con và nhờ anh chị em họ hàng khuyên bảo nhưng anh Đ không thay đổi, cùng năm 2017 chị V đi làm thuê tại Trung Quốc thi thoảng mới về. Đến năm 2019, chị V về ở hẳn không đi làm nữa, sau đó anh Đ vẫn không thay đổi tính cách và tiếp tục chửi, đánh và đuổi chị V về ra khỏi nhà. Sau đó chị V về nhà ngoại ở và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm gì nhau. Nay chị Lâm Thị V xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh La Văn Đ.

Về con chung: Chị Lâm Thị V và anh La Văn Đ có 02 người con chung là La Thị Tuyết N, sinh ngày 27/3/2012 và La Mạnh Q, sinh ngày 02/01/2015. Cả hai cháu hiện đang ở với anh Đ tại thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Khi ly hôn, chị V yêu cầu anh Đ có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu N và cháu Q đến tuổi trường thành và sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung là 750.000đ/tháng/cháu đến khi cháu N và cháu Q đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/4/2021 và lời khai tại phiên tòa hôm nay anh La Văn Đ trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh La Văn Đ và chị Lâm Thị V được tự do tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau không bị ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H vào ngày 23/12/2011. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống có hạnh phúc, có được 02 người con chung. Năm 2017, chị Lâm Thị V đi Trung Quốc làm thuê đến năm 2019 thì quay về. Trong suốt quá trình chung sống hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì xảy ra. Tuy nhiên, chị Lâm Thị V sau khi đi Trung Quốc về đã thay đổi, không còn quan tâm đến cuộc sống của anh Đ và các con nữa, chị V tự bỏ đi về nhà ngoại tại thôn T, xã Q, huyện H, tỉnh Lạng Sơn ở và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không con quan tam gì nhau. Nay anh La Văn Đ xác định vợ chồng không còn tình cảm, chị Lâm Thị V khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, anh La Văn Đ đồng ý thuận tình ly hôn với chị Lâm Thị V theo biên bản hòa giải ngày 20/4/2021.

Về con chung: Anh La Văn Đ và chị Lâm Thị V có 02 người con chung tên là La Thị Tuyết N, sinh ngày 27/03/2012 và La Mạnh Q, sinh ngày 02/01/2015. Từ năm 2017, hai cháu hiện ở với anh Đ tại thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Khi ly hôn, anh Đ yêu cầu được nuôi cả 02 con và yêu cầu chị Lâm Thị V phải cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000đ/tháng/cháu cho đến khi cháu N và cháu Q đủ 18 tuổi như đã thỏa thuận tại biên bản hòa giải ngày 20/4/2021 và yêu cầu chị Lâm Thị V cấp dưỡng nuôi con cho anh Đ trước 05 năm, từ năm thứ 06 trở đi cấp dưỡng theo tháng đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Anh La Văn Đ và chị Lâm Thị V đã tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Lâm Thị V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh La Văn Đ, yêu cầu giải quyết tranh chấp nuôi con chung. Do đó đây là tranh chấp hôn nhân gia đình nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn...

[2] Về quan hệ hôn nhân: Năm 2012 chị Lâm Thị V và anh La Văn Đ kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên cuộc hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Cuộc sống chung của chị Lâm Thị V và anh La Văn Đ hạnh phúc được một thời gian, sau đó đến năm 2017 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn... Do vậy, cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Lâm Thị V và anh La Văn Đ theo biên bản hòa giải ngày 20 tháng 4 năm 2021.

[3] Về con chung: Chị Lâm Thị V và anh La Văn Đ có 02 con người chung là La Thị Tuyết N, sinh ngày 27/03/2012 và La Mạnh Q, sinh ngày 02/01/2015. Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của người cha, người mẹ. Tại phiên hòa ngày 20/4/2021 chị Lâm Thị V và anh La Văn Đ đã thỏa thuận được với nhau về phần nuôi con là anh La Văn Đ được quyền nuôi cả 02 cháu, chị Lâm Thị V có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 750.000đ/tháng/cháu là phù hợp với quy định tại Điều 107, 116 của Luật hôn nhân gia đình.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 84, 107, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1, 6 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3, 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357 của Bộ luật dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thỏa thuận của chị Lâm Thị V và anh La Văn Đ thuận tình ly hôn.
  2. Về con chung: Giao cháu La Thị Tuyết N, sinh ngày 27/03/2012 và La Mạnh Q, sinh ngày 02/01/2015 cho anh La Văn Đ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chị Lâm Thị V có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 750.000đ/tháng/cháu đến khi cháu N và cháu Q đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 06/7/2021.
  3. Về tài sản chung: Không có.
  4. Về nợ chung: Không có.
  5. Về án phí: Chị Lâm Thị V tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 150.000đ và buộc chị Lâm Thị V phải chịu 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Tổng cộng là 450.000đ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Bình Gia;
- Chi cục THADS huyện Binh Gia;
- UBND xã Hồng Phong;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



(đã ký)

Lành Văn Huế
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2021/HNGĐ-ST ngày 05/07/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn về ly hôn và tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 06/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Chị Lâm Thị V; Bị đơn: Anh La Văn Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger