Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA


Bản án số: 06/2021/HNGĐ-PT

Ngày: 24 - 6- 2021

V/v: Xin ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

  • - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Hiền
  • Các Thẩm phán: Ông Cầm Văn Thanh, ông Phạm Tuấn Minh.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Khương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/TLPT-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2021, về việc Xin ly hôn. Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 01/2021/HNGĐ-ST ngày 05/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện C1, bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐ-PT ngày 28 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Cầm Thị Huyền T. Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện C, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa;
  • - Bị đơn: Anh Lò Văn Q. Địa chỉ: Bản A1, xã B1, huyện C1, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
  • Người kháng cáo bị đơn: Anh Lò Văn Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Cầm Thị Huyền T trình bày:

Chị và anh Lò Văn Q tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Sơn La. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 6 năm, đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh, chị bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn làm cho cuộc sống hôn nhân của gia đình không được hạnh phúc. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lò Văn Q.

Về con chung: Có một con chung là Lò Vũ Tuệ Q1, sinh ngày 19/10/2015, nếu ly hôn chị yêu cầu được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Có 01 chiếc xe máy Honda Wave @, biển kiểm soát 26K1 - 084.09 đăng ký mang tên Cầm Thị Huyền T, trị giá 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng). Chị T không yêu cầu chia mà giao lại chiếc xe trên cho anh Lò Văn Q.

Về nợ chung: Không có nợ chung.

Bị đơn anh Lò Văn Q trình bày: Anh Lò Văn Q nhất trí với nội dung trình bày của chị Cầm Thị Huyền T, tuy nhiên anh không nhất trí yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Về con chung: Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lò Vũ Tuệ Q1, sinh ngày 19/10/2015 cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh Q xác nhận có 01 chiếc xe máy Honda Wave @ như chị T khai, nhất trí nhận chiếc xe máy nêu trên. Ngoài ra, anh Lò Văn Q yêu cầu chị Cầm Thị Huyền T hoàn trả cho bố mẹ anh các khoản chi phí do bố mẹ anh đã chi nuôi chị T ăn học cho đến khi đi làm là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng).

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 01/2021/HNGĐ-ST ngày 05/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện C1 đã quyết định: Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014; tuyên xử cho chị Cầm Thị Huyền T được ly hôn với anh Lò Văn Q; giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; giao xe máy cho anh Q sở hữu; bác yêu cầu đòi 200.000.000đ của anh Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tại bản tự khai của anh Q có kê vợ chồng có nợ Ngân hàng 130.000.000đ, chị T xác nhận có nợ nhưng anh Q thường đi làm ăn xa nên một mình chị trả nợ cho Ngân hàng. Tại cấp phúc thẩm đã được khắc phục bổ sung, xác định vợ chồng chị T có nợ Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt - chi nhánh Sơn La. Chị T tự nguyện có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng, Ngân hàng nhất trí ý kiến của chị T nên không cần thiết phải hủy án sơ thẩm.

[2] Xét kháng cáo của anh Lò Văn Q về quan hệ hôn nhân: Chị Cầm Thị Huyền T và anh Lò Văn Q tự nguyện kết hôn năm 2012. Anh, chị chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ tháng 3/2019 cho đến nay. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, nguyện vọng xin được ly hôn. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử cho chị T và anh Q được ly hôn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo đối với khoản tiền 200.000.000đ: Hội đồng xét xử thấy rằng, nếu là tiền của bố mẹ anh Q thì bố mẹ anh Q phải là người có đơn yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, hoặc ủy quyền cho anh Q. Trong hồ sơ không có đơn cũng như ủy quyền. Cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu trên của anh Q là phù hợp.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Lò Văn Q, giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 01/2021/HNGĐ-ST ngày 05/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện C1, tỉnh Sơn La.
  2. Về án phí phúc thẩm: Bị đơn anh Lò Văn Q phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - TAND huyện C1;
  • - VKSND huyện C1;
  • - Chi cục THADS huyện C1;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tòng Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2021/HNGĐ-PT ngày 24/06/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La về xin ly hôn

  • Số bản án: 06/2021/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Chị Cầm Thị Huyền T. Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện C, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa; - Bị đơn: Anh Lò Văn Q. Địa chỉ: Bản A1, xã B1, huyện C1, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa. Án Hôn nhân gia đình phúc thẩm về việc Xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger