|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 06/2021/HNGĐ-PT Ngày: 22- 4 -2021 V/v Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.
Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Diệp; Ông Nguyễn Văn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Hồng Thảo Nguyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh: Bà Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16 và ngày 22 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 10/2021/TLPT-HNGĐ, ngày 02 tháng 3 năm 2021 về “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 03/2021/HNGĐ-ST ngày 26-01-2021 của Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 07/2021/QĐ-PT ngày 18 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Số 8/5, Khu phố 5, Phường 1, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Lê Phước A, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Số 57, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 18/9/2019); có mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Số K5/4B, khu phố HL, phường HT, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng Minh T, sinh năm 1989; Nơi Cư trú: Số 59, đường Lý Thường K, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 12-3-2021); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Ông Trần Văn S, sinh năm 1954; Nơi cư trú: Số K5/4B, khu phố HL, phường HT, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- 3.2. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1949; Nơi cư trú: Số K5/4B, khu phố HL, phường HT, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cuả ông S, bà X: Luật sư ông Nguyễn Văn T – Luật sư thuộc Công ty Luật P- Đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh - có mặt.
- 3.3. Anh Trần Văn L, sinh năm 1966; cư trú: Khu phố HL, phường HT, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn là Anh Trần Văn D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn S, bà Nguyễn Thị X.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị D và người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của chị D– Anh Lê Phước A trình bày: Chị D và Anh Trần Văn D kết hôn vào năm 2007 và đã ly hôn vào năm 2017, khi ly hôn chị D và anh D chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung của vợ chồng, tại thời điểm ly hôn tài sản của chị D và anh D có 01 căn nhà xây tường cất trên phần đất có diện tích 199,1 m2, thửa đất số 106, tờ bản đồ số 31, được UBND huyện Hòa Thành cấp ngày 05/8/2008, nhà và đất này được ông S và bà X tặng cho vợ chồng vào năm 2008. Nay chị D yêu cầu được nhận 40% trị giá nhà và đất, nhận bằng tiền mặt. Ngoài ra vợ chồng không có nợ ai.
Bị đơn – Anh Trần Văn D, có người đại diện theo ủy quyền là anh Tâm trình bày: Anh D thống nhất như lời trình bày của chị D; anh và chị D kết hôn vào năm 2007 và đã ly hôn vào năm 2017, khi ly hôn vợ chồng chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, tại thời điểm ly hôn tài sản của vợ chồng có 01 căn nhà xây tường cất trên phần đất có diện tích 199,1 m2, thửa đất số 106, tờ bản đồ số 31, về nguồn gốc nhà và đất do cha mẹ ruột tặng cho vợ chồng năm 2008 và vợ chồng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2008. Năm 2017 chị D có đơn yêu cầu chia tài sản chung, sau đó chị D rút đơn khởi kiện do chị D và mẹ của anh thỏa thuận giao sạp Tàu hủ cho chị D, chị D giao nhà và đất cho anh và các con, từ đó anh đi kê khai đăng ký và ngày 24/5/2018 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận. Nay chị D yêu cầu chia cho chị D 40% trên tổng giá trị tài sản nhà và đất anh không đồng ý. Ngoài ra vợ chồng không có nợ ai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Trần Văn S trình bày: Năm 2008, vợ chồng ông có ký hợp đồng tặng cho Anh Trần Văn D và Chị Nguyễn Thị Hồng D nhà và đất tọa lạc tại Số K5/4B, ấp Hiệp Long, xã Hiệp Tân, huyện Hòa Thành (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh, Dân và Diễm đã đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ vào năm 2008, vợ chồng ông cho để ở không được quyền bán, không được chia, đây là nhà thờ, hiện vợ chồng ông đang sống trên nhà đất này. Nay ông không đồng ý theo yêu cầu chia tài sản của Chị Nguyễn Thị Hồng D. Vợ chồng của ông có đơn yêu cầu độc lập, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho nhà đất đối với Anh Trần Văn D và Chị Nguyễn Thị Hồng D. Lý do tặng cho mục đích để anh D chị D đứng tên giấy chứng nhận để vay vốn Ngân hàng, bởi vợ chồng ông chỉ có một căn nhà duy nhất. Trước đây chị D có khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung, sau đó rút đơn có làm bản cam kết, bà X giao sạp Tàu hủ chợ Phường 3 cho chị D, chị D cam kết không yêu chia đồng ý giao nhà đất cho anh D đứng tên giấy chứng nhận, do anh D làm mất giấy nên chưa tiến hành làm thủ tục sang tên qua anh D. Ngoài ra phần nhà do con rễ tên Lộc sửa lại vào năm 2016 cho vợ chồng ở.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị X trình bày: Bà thống nhất như lời trình bày của ông S, không có ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Trần Văn L khai: Anh là con rể của ông Trần Văn S, bà Nguyễn Thị X. Vào năm 2016 anh có sửa nhà cho ông S và bà X hết khoảng 400.000.000 đồng, Chị Nguyễn Thị Hồng D yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn đối với Anh Trần Văn D, ông S và bà X có đơn yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho nhà và đất đối với chị D và anh D. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn hoặc chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho nhà đất, anh không yêu cầu trả lại cho anh số tiền sửa nhà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của anh D, ông S, bà X thấy rằng: Năm 2008 ông S, bà X ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho anh D và chị D, trên đất có căn nhà xây tường, anh D và chị D đã được UBND huyện Hòa Thành cấp giấy chứng nhận QSDĐ ngày 05/8/2008; theo hợp đồng tặng cho này nội dung hợp đồng không có điều khoản nào về tặng cho có điều kiện. Hợp đồng tặng cho tuân thủ nội dung và hình thức của hợp đồng theo quy định tại các Điều 122, 134, 467 và Điều 689 Bộ luật dân sự năm 2005 nên có hiệu lực pháp luật. Ông S bà X yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho nhưng không cung cấp được các căn cứ hủy bỏ hợp đồng theo quy định tại Điều 425 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông S bà X và anh D.
[2] Từ những phân tích trên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo ông S bà X và anh D; Không chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 03/2021/HNGĐ-ST ngày 26-01-2021 của Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 62 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 457, Điều 459 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị X, Anh Trần Văn D.
- Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 03/2021/HNGĐ-ST ngày 26-01-2021 của Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
- Chấp nhận yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn của Chị Nguyễn Thị Hồng D đối với Anh Trần Văn D.
- Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho nhà và đất của ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị X đối với Chị Nguyễn Thị Hồng D và Anh Trần Văn D.
- Buộc anh Trần Văn Dân có nghĩa vụ thanh toán lại số tiền mà chị D được hưởng trong khối tài sản là 706.589.000 đồng (bảy trăm lẻ sáu triệu, năm trăm tám mươi chín ngàn đồng).
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tây Ninh; - TAND Thị xã H; - Phòng kiểm tra nghiệp vụ; - Chi cục THADS thị xã H; - Đương sự; - Lưu tập án; - Lưu hồ sơ;. |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Vân |
Bản án số 06/2021/HNGĐ-PT ngày 22/04/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 06/2021/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Diễm yêu cầu được nhận 40% trị giá nhà và đất, nhận bằng tiền mặt.
