|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 06/2021/HNGĐ-PT Ngày: 16-3-2021 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thái Lan
- Các Thẩm phán: Ông Mai Tấn Hoàng và bà Vũ Ngọc Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tân – Thẩm tra viên Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Anh – Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 19/2020/TLPT-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 73/2020/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 03/2021/QĐ-PT ngày 26 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị BQ, sinh năm: 1985; HKTT: khu phố BT, phường H, TP. H, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở hiện nay: khu phố NT1, phường 1, TP. H, Phú Yên. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn về việc giải quyết chia tài sản chung: Anh Phạm HP – Sinh năm: 1983; địa chỉ: 02 TC, phường H, TP. H, tỉnh Phú yên (theo giấy ủy quyền ngày 23/4/2020). Có mặt. - Bị đơn: Anh Lê QT – Sinh năm: 1983; Địa chỉ: khu phố BT, phường H, TP. H, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vợ chồng ông LN – sinh năm: 1951, bà Trần Thị P – sinh năm: 1957; địa chỉ: khu phố BT, phường H, TP. H, tỉnh Phú Yên.
Người đại diện theo ủy quyền của ông N, bà P: Ông Ngô MT – Sinh năm: 1975; địa chỉ: 03 Nguyễn H, phường 1, thành phố H, tỉnh Phú Yên. Ông T có mặt (vắng mặt khi tuyên án).
Người kháng cáo: Bị đơn Lê QT và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông LN, bà Trần Thị P.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có tại hồ sơ, tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị BQ trình bày: Chị và anh T tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn số 09, quyển số 11 ngày 23/3/2006. Quá trình sống chung vợ chồng thường hay xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là hai vợ chồng không còn tin tưởng nhau, nghi ngờ lẫn nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng nên từ tháng 6/2017 hai bên sống ly thân cho đến nay, nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin được ly hôn với anh T.
Về con chung: Có 02 con chung là Lê Quốc B – Sinh ngày 30/8/2006 và Lê Hoàng KN – Sinh ngày 14/01/2016, trong thời gian sống ly thân thì 02 con chung do chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, nay ly hôn chị yêu cầu xin được nuôi hai con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 500.000đ/tháng/cháu.
Anh Phạm HP là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày về tài sản chung: Vợ chồng chị Q, anh T có tài sản chung là ngôi nhà cấp 4 gắn liền diện tích đất 98,4m2 tọa lạc tại khu phố BT, phường H, TP. H, tỉnh Phú Yên. Phần diện tích đất là do cha mẹ chồng ông LN, bà Trần Thị P tặng cho theo giấy cho đất ngày 16/10/2008. Ngoài ra còn có bộ ghế sa lon gỗ, tivi Panasonic 43 inch và máy giặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, kết quả tranh luận của đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về yêu cầu kháng cáo của Lê QT và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông LN, bà Trần Thị P: Tài sản các bên đương sự tranh chấp là căn nhà 02 tầng, mái lợp ngói có diện tích 84,7m2 gắn liền diện tích đất 98,4m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 557962 được UBND thành phố Tuy cấp ngày 02/12/2016 tại thửa đất số 296, tờ bản đồ số 35.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Lê QT và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông LN và bà Trần Thị P. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn nguyên đơn chị Nguyễn Thị BQ với bị đơn anh Lê QT.
- Về con chung: Giao hai con chung cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ cho 02 con.
- Về tài sản chung: Công nhận tài sản chung gồm ngôi nhà 02 tầng và các vật dụng gia đình. Giao nhà đất cho anh Lê QT sở hữu, anh T có trách nhiệm thối lại giá trị tài sản cho chị Q số tiền 630.647.210đ.
|
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao; - VKSND tỉnh Phú Yên; - Chi cục THADS TP.H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thái Lan |
Bản án số 06/2021/HNGĐ-PT ngày 16/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 06/2021/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/03/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn về mâu thuẫn gia đình
