Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO YÊN
TỈNH LÀO CAI


Bản án số: 06/2021/DS-ST
Ngày 31 tháng 3 năm 2021
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Quang Đại.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Dung.
  2. Bà Đinh Thị Út.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Mạnh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Trịnh – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2020/TLST - DS ngày 25 tháng 11 năm 2020 về việc: “Tranh chấp Quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐST-DS ngày 09 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/QDDS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2021. Giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:
Anh Nguyễn Văn H - Sinh năm 1968;
Chị Vũ thị H - Sinh năm 1974;
Cùng trú tại bản Mỏ Đá, xã Tân Dương, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - Có mặt;

- Bị đơn:
Ông Bùi Khắc M - Sinh năm 1955;
Bà Phạm Thị H - Sinh năm 1955;
NĐKHKTT: Tổ 7A, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Nơi ở: Tổ 2 A, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa của anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H có nội dung như sau:

Chị Vũ Thị H là em gái của bà Vũ Thị L công nhân xí nghiệp hoa quả huyện Bảo Yên từ những năm 1979. Năm 1995 chị H xây dựng gia đình với anh Nguyễn Văn H được bà L cho diện tích đất khoảng 14.000 m2. Năm 1996 chị H và anh H được UBND huyện Bảo Yên cấp đất lâm nghiệp theo Quyết định số: 399/QĐ-UB ngày 09 tháng 9 năm 1996, đến tháng 3 năm 1997 gia đình anh H được trồng rừng theo dự án 327, đến năm 2009 chị H và anh H được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 880404 tổng diện tích 14.196,3 m2 gồm 02 thửa, thửa số 55 tờ bản đồ số 01 và thửa số 01, tờ bản đồ số 12 tại tổ 2A, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Năm 2010 hộ anh H được cấp phép khai thác gỗ dự án 327, cuối năm 2011, đầu năm 2012 ông M và bà H đã lấn chiếm toàn bộ 02 thửa đất trên. Từ thời điểm ông M, bà H lấn chiếm đất, anh H và chị H đã nhiều lần đề nghị các cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhưng chưa được giải quyết dứt điểm. Nay anh H và chị H khởi kiện yêu cầu ông Bùi Khắc M và bà Phạm Thị H phải di chuyển toàn bộ tài sản ra khỏi 02 thửa đất trên để trả lại quyền sử dụng đất cho anh H và chị H.

Quá trình giải quyết vụ án, ngày 18/01/2021 Tòa án tiến hành xem xét thẩm định đối với diện tích đất tranh chấp, kết quả thẩm định đã xác định: Diện tích đất tranh chấp tại thửa đất 55, tờ bản đồ 01, diện tích 10.028,8m2 trên đất hiện nay ông M bà H trồng 9.500 cây quế, từng cây cao khoảng 3m; thửa số 01 tờ bản đồ số 12 diện tích 2.498m2, trên đất ông M và bà H trồng khoảng 3.000 cây bồ đề và quế 03 năm tuổi, từng cây cao khoảng 3 m, địa chỉ các thửa đất tại tổ 2A, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, các đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Thửa đất đang tranh chấp có vị trí tại tổ 2A, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên đồng thời ông Bùi Khắc M và bà Phạm Thị H cư trú tại huyện Bảo Yên. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bảo Yên được quy định tại các Điều 26, 35, 36 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 100, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 147, 157, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí của Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H. Buộc ông Bùi Khắc M và bà Phạm Thị H phải chặt và di rời toàn bộ cây trồng và cây tự nhiên để trả lại anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H diện tích 10.028,8 m2 tại thửa số 55, tờ bản đồ số 01 và 2.498 m2 tại thửa số 01 tờ bản đồ số 12.
  2. Về chi thẩm định xem xét tại chỗ: Buộc ông Bùi Khắc M và bà Nguyễn Thị H phải hoàn trả anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng.
  3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Các bị đơn Bùi Khắc M, Phạm Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lào Cai;
- VKSND huyện(2);
- Chi cục THADS huyện (2);
- Các đương sự (2);
- Lưu Hsơ (2);
- Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Vũ Quang Đại
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2021/DS-ST ngày 31/03/2021 của Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 06/2021/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/03/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử buộc bị đơn phải trả qsdd cho nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger