|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 06/2021/DS-PT Ngày 18 - 01 - 2021 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ----------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Phụng
Các Thẩm phán: 1/. Ông Nguyễn Thành Hữu.
2/. Bà Trương Tố Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng: Ông Trần Văn Nghiệp - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2020/TLPT-DS ngày 12 tháng 11 năm 2020. về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 39/2020/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 195/2020/QĐ-PT ngày 18 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà A, sinh năm 1960. Địa chỉ: Ấp B, thị trấn L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà C, sinh năm 1989. (Vắng mặt có đơn xét xử vắng mặt). Địa chỉ: Ấp M, thị trấn L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Bà D, sinh năm 1946. Địa chỉ: Ấp B, thị trấn L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Người kháng cáo: Bà D là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Nguyên đơn bà A có người đại diện theo ủy quyền là bà C đại trình bày:
Nguyên vào ngày 20/09/2017 bà A có cho bà D vay số tiền 50.000.000 đồng, việc cho vay không có giấy nhận nợ, hình thức trả là mỗi ngày trả 250.000 đồng, thỏa thuận bà D trả đúng 09 tháng tức là 270 ngày là hết nợ nhưng từ khi vay đến nay bà D chỉ trả lãi cho bà A tổng cộng được 17.500.000 đồng, bà A nhiều lần đến gặp và yêu cầu bà D trả nợ nhưng bà D không trả nên bà A khởi kiện ra Tòa.
Bà A yêu cầu bà D có trách nhiệm trả cho bà A số tiền vốn là 50.000.000 đồng, lãi tính từ ngày 20/9/2017 đến ngày khởi kiện ngày 24/12/2019 tính tròn 24 tháng là 22.400.000 đồng, trừ 17.500.000 đồng đã trả, yêu cầu bà D tiếp tục trả tiền lãi còn lại là 4.900.000 đồng. Tổng vốn lãi là 54.900.000 đồng. Ngoài ra yêu cầu tiếp tục tính thêm lãi đến ngày xét xử.
- Bị đơn bà D trình bày:
Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, từ trước tới nay bà chỉ có vay của bà A một lần số tiền 50.000.000 đồng và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà A, vụ việc đã được Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng xét xử xong, còn khoản vay hiện nay bà A kiện là bà không có vay, số tiền bà A cho rằng bà đã góp được 17.500.000 đồng đó là bà góp trả cho khoản vay thế chấp quyền sử dụng đất, sổ góp trả tiền bà đã nộp cho Tòa án trong vụ án trước, chữ viết ghi trong sổ góp trả là của bà A viết mỗi khi bà góp trả tiền, bà không có vay thêm khoản vay nào khác nên không đồng ý trả.
* Sự việc được Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 39/2020/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2020, đã quyết định:
Áp dụng Điều 463, 466, khoản 1 Điều 468, Điều 357 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị đơn bà D có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà A số tiền 53.828.900 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm, lãi suất chậm Thi hành án và thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự theo luật định.
* Ngày 09-10-2020, bị đơn bà D có đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số 39/2020/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết xét xử lại vụ án theo hướng khấu trừ số tiền 44.500.000 đồng mà bà D đã trả vào số tiền bà D thiếu bà A trong vụ án này và yêu cầu giám định chữ ký của bà D tại các giấy nợ giao dịch với bà A.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt xem như giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn bà D rút một phần kháng cáo đối với phần yêu cầu giám định và giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo khác. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị của Luật sư, Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về chủ thể, nội dung, hình thức đơn kháng cáo và thời hạn kháng cáo của bị đơn bà D là đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, nên kháng cáo hợp lệ và đúng theo luật định.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà C vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà C.
[2] Về nội dung:
[2.1] Nguyên đơn cho rằng, vào ngày 20/09/2017 nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 50.000.000 đồng, việc cho vay không có giấy tờ, hình thức trả góp mỗi ngày trả 250.000 đồng, thời gian góp là 09 tháng 10 ngày (280 ngày), nhưng từ khi vay đến nay bị đơn chỉ trả lãi cho nguyên đơn tổng cộng 17.500.000 đồng, sau đó thì không góp nữa. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền vốn gốc là 50.000.000 đồng, lãi tính từ ngày 20/9/2017 đến ngày khởi kiện ngày 24/12/2019 tính tròn 24 tháng là 22.400.000 đồng, trừ 17.500.000 đồng đã góp, tiền lãi còn lại là 4.900.000 đồng, tổng vốn và lãi là 54.900.000 đồng.
[2.2] Ngược lại bị đơn cho rằng, từ trước tới nay bị đơn chỉ có vay duy nhất của nguyên đơn 01 lần với số tiền 50.000.000 đồng và thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, vụ việc đã được Tòa án nhân dân huyện T xét xử xong, còn khoản vay này bị đơn không có vay, còn số tiền 17.500.000 đồng đó là số tiền bị đơn góp trả cho khoản vay trước đây, sổ góp trả tiền bị đơn đã nộp cho Tòa án trong vụ án trước, do đó bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn về việc yêu cầu khấu trừ số tiền 44.500.000 đồng mà bị đơn đã trả tại vụ án trước đây vào số tiền bị đơn còn thiếu nguyên đơn trong vụ án này, nhận thấy,
[3.1] Nguyên đơn khởi kiện cho rằng bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 50.000.000 đồng, mặc dù không có làm biên nhận tiền nhưng nguyên đơn có giao cho bị đơn cuốn sổ góp tiền và bị đơn có cung cấp cho Tòa án cuốn sổ góp tiền này, ghi ngày vay là 20/9/2017, số tiền vay 50.000.000 đồng góp 09 tháng 10 ngày, bị đơn giữ sổ và mỗi khi góp trả tiền thì nguyên đơn tự ghi vào sổ, số tiền bị đơn đã góp cho nguyên đơn số tiền lãi là 17.500.000 đồng, số tiền bị đơn còn thiếu nguyên đơn sau khi trừ số 17.500.000 đồng là 54.900.000 đồng.
[3.2] Bị đơn cho rằng, số tiền vay 50.000.000 đồng là số tiền mà bị đơn đã vay của nguyên đơn và có thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được Tòa án xét xử xong theo bản án số 69/2019/DS-ST ngày 20/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện T. Tuy nhiên, nội dung của bản án số 69 này thể hiện nội dung là bà D vay của bà Vân là ngày 02/12/2017 chứ không phải là ngày 20-9-2007, tại bản án này đã buộc bà D trả tổng cộng vốn lãi là 59.572.667 đồng, bà D không kháng cáo và bản án đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy số tiền 50.000.000 đồng mà bị đơn vay có thế chấp quyền sử dụng đất là số tiền vay trước đây đã được Tòa án xét xử rồi, vay vào ngày 02-12-2017, còn số tiền 50.000.000 đồng mà nguyên đơn khởi kiện tại vụ án này là số tiền bị đơn vay vào ngày 20-9-2017. Giữa hai khoảng vay này độc lập, hoàn toàn không liên quan với nhau.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo bị đơn bà D. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 39/2020/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng như sau:
Áp dụng Điều 463, 466, khoản 1 Điều 468, Điều 357 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà A. Buộc bị đơn bà D có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà A số tiền vốn và lãi là 10.706.192 đồng (Mười triệu bảy trăm lẻ sáu ngàn một trăm chín mươi hai đồng).
- Bác một phần yêu cầu khởi kiện của bà A về việc yêu cầu bà D hoàn trả phần tiền vốn lãi chệch lệch là 44.193.808 đồng.
- Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà A và bị đơn bà D không phải chịu án phí.
- Về án phí phúc thẩm: các đương sự không phải chịu.
Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - TAND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa DS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Phụng |
Bản án số 06/2021/DS-PT ngày 18/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 06/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/01/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: V - Bị đơn: L
